Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2010

Thuyền đắm ngày đẹp trời -Truyện ngắn của Nguyễn Hữu Hồng Minh

Mọi thứ, mọi tình huống có thể diễn ra bất cứ lúc nào như bản chất trôi chảy của cuộc sống cho dù bạn không hề mong muốn. Như truyện ngắn này, tất cả được phát hiện, ngắm rọi trong một ngày đẹp trời.

Dương chuẩn bị ra khỏi nhà. Anh không nhớ hôm đó thứ mấy. Mà cũng chả cần thiết. Có thể bất cứ ngày nào trong tuần. Chỉ có điều rõ ràng đó là một ngày nắng đẹp. Mặt trời uể oải lên chậm. Nó chùng chình trong mây trắng như vẫn còn ngái ngủ, quấn mình trễ nải trong chiếc màn nhung. Vài tia nắng ấm áp rắc qua tán lá. Rồi cái màu vàng óng như len trải thảm, kéo sợi đến tận cuối chân trời.
Dương đẩy xe ra cửa. Tâm hồn vui lắm. Môi anh vẩu lên, ngậm điếu thuốc. Một hơi rít sâu. Làn khói rê vào tận đáy phổi chất ngất giác cảm. Mùa thu đã về. Hơi lạnh tràn mọi ngõ. Nửa khuya, cơn mưa lớn như cuốn đi hết những bụi bặm, rác rưởi đời anh. Những ngày vừa qua anh đã sống buồn quá. Lòng hẹp như một vỉa hè bị hàng quán chiếm dụng, nhôm nhoam, chật chội. Những mặt người hầm hố, nham nhở khai quật. Những mưu mô nháo nhoàng, tăm xỉa, đớp đáp.
Nắng xối đỉnh đầu. Bất chợt, Dương thèm cơn mưa. Và giờ đây, lúc này, thời khắc chuyển mùa. Một ngày đẹp trời đã đến. Nhưng Dương có biết đâu. Trước và sau một phút chẳng đã từng có những đổi thay làm rung chuyển thế giới hay sao?
Còn bây giờ thì Dương đang vui. Anh đến quán cà phê để gặp một người quen cũ từ lâu bặt tin. Hình như y đi làm ăn xa, vừa trở về. Địa điểm hẹn thơ mộng, nhiều bóng cây. Nhưng vừa bước vào thì cũng là lúc điện thoại rung lên. Một tin nhắn từ số máy lạ. Người bạn xin lỗi vì không thể đến được. Y biện bạch một lý do đáng hồ nghi. Rối rắm và khó hiểu. Những mẫu tự loăng quăng không dấu càng làm Dương không tin vào mắt mình.
Tạm chấp nhận thế này, một cuộc hẹn bị hủy vào đầu buổi sáng đẹp trời. Thế thôi! Còn vì sao thì có ngàn lẻ một lý do. Và Dương quyết định vẫn ngồi xuống. Anh gọi cà phê. Không việc gì phải vội với buổi sáng đẹp như thế này. Cuộc đời có bao lâu. Không tận hưởng thì thật uổng phí. Rồi anh thoáng có ý nghĩ là nên gọi thêm một ai thế vào chỗ người đã vắng mặt. Ai cũng được. Điều đó không còn quan trọng. Dương mở danh bạ điện thoại, vừa hút thuốc, vừa dò vu vơ. Những hàng tên chớp lướt vô vị dưới mắt anh. Anh cố hình dung một gương mặt rồi lơ đễnh bấm đại.
Sau vài nhịp chuông rè rè, một giọng nói trầm đục cất lên làm anh giật mình. Một tiếng cười khùng khục mắc trong cổ. Một khứa nào đó mà anh chưa kịp nhận ra đã vội nhận lời là rất sẵn lòng, đến ngay. Y đang ở rất gần và sẽ có mặt chỉ trong dăm phút nữa.
Khi khứa bước vào, Dương ngớ người vì đó không phải gương mặt anh mong đợi. Thì ra anh đã gọi nhầm vì trong điện thoại lưu quá nhiều tên trùng nhau. Nhưng rõ ràng người mà anh thực sự mong muốn như thế nào thì chính anh cũng không rõ.
Chỉ biết rằng Dương tràn trề thất vọng. Trong khoảng mù của trí nhớ, Dương chỉ biết đây là đối thủ của một đối tác trong một đối vụ nào đó. Hoàn toàn không thích hợp với không gian buổi sáng đẹp và tâm trạng của anh. Mọi việc có vẻ muộn màng khi tiếp tục trượt ra ngoài ý định. Khứa luôn tỏ ra nhã nhặn, là một tay biết điều. Tuy nhiên, cuối buổi, khứa lại vụng về quá đỗi:
- Ông vẫn làm ở chỗ cũ hả? Đã chuẩn bị gì chưa? Thuyền sắp đắm rồi!...
Lại một sự cố rơi ra ngoài vòng kiểm soát. Cả hai chia tay nhau đắng đót và vội vã trong cảm giác cố chạy thoát khỏi cục nợ…
***
Thuyền sắp đắm. Là sao nhỉ? Tại sao khứa biết mà nói với Dương nhỉ? Nếu đã thế rõ ràng nhiều người biết. Còn anh tại sao lại không? Công việc của mình đáng ra, anh rõ hơn ai hết mới phải chứ? Đúng là một tin không đáng chút nào vào buổi sáng đẹp trời.
Kể từ đó, Dương biết mình khó bình yên được nữa. Có một nỗi buồn râm rỉ, len lỏi ứa trào. Tim đập mạnh vì linh cảm mơ hồ một sự cố nào đó đang chực bủa xuống. Dương phấp phỏng rà soát lại công việc. Anh định tâm và cố nhoài sâu xuống cái hố cảm giác để vực tìm những chuỗi sự kiện liên đới về hình ảnh con thuyền sắp đắm mông lung nào đó.Và anh đã tìm thấy.
Thì ra anh đã lơ đãng. Mà cũng chẳng phải. Anh linh cảm, thoáng biết, nhưng đã cố quên đi. Thiên hạ máu thật. Chẳng việc gì không đánh hơi được.
Dương là tay cạo giấy, chữa mô-rát quèn trong một tờ báo nhỏ. Chính xác đó là một tạp chí ra hằng tuần chuyên về điện tử, công nghệ thông tin. Gần đây, khi kinh tế thế giới suy thoái, dư chấn của nó đã lan tỏa những chân rết vô hình trong đời sống. Nghe phong thanh tờ báo của Dương không còn thuận lợi trong phát hành. Thị phần vốn đã nhỏ giờ càng bị thít lại. Nhiều nhà đầu tư là các hãng công nghệ lớn như điện thoại, laptop, máy tính… đã rút ra. Những cuộc thương lượng quảng cáo không thành. Số lượng phát hành giảm sút nghiêm trọng. Những số báo chuyển đi các nơi đến hẹn lại trở về gần như y nguyên. Một sự phũ phàng khó có thể chấp nhận nổi.
Không hiểu bây giờ người đọc thích cái gì? Những cuộc cải tổ về nội dung và hình thức liên tục diễn ra. Ban biên tập tranh cãi như mổ bò. Đập bàn. Đấm cửa. Vục đầu vào nước lạnh. Mắt cay. Đẫm lệ. Thở dài. Hy vọng rồi thất vọng. Tờ báo tuy vẫn ra đều đều nhưng đã mang dung mạo của một món hàng thiu ế ẩm, không khác mớ rau cải thối rữa chẳng ai thèm đoái hoài, nằm phơi trong ánh chiều của phiên chợ tàn tạ.
Mặc cho bìa một là sự cố gắng hết mình của đám họa sĩ trình bày. Căng hết cỡ các hình khiêu khích của siêu mẫu, ca sĩ, minh tinh màn bạc, người đẹp phớn phở, mỡ màng… Cạnh họ là những món hi-tech, macbook-pro, ipod-shuffle công nghệ cao. Những tấm hình với kỹ thuật vi tính vuốt phẳng, mông má. Những thân thể bốc lửa uốn éo, quyến dụ. Vậy mà cũng chẳng lừa thêm được ai.
Phòng phát hành đưa ra kế sách bán một tờ báo tặng kèm một món quà. Cho đến số gần đây nhất, tay tài xế chuyên chở báo đi giao cho các đại lý đã tru lên như sói. Gần như chở đi bao nhiêu thì nhận về bấy nhiêu. Rồi y còn phát hiện một điều đáng chán: sợi dây buộc báo thành từng lốc vẫn còn nguyên tem nhãn, chưa hề được mở ra. Nghĩa là nó ế ẩm đến mức người tiêu dùng không buồn để mắt nữa.
Tại sao vậy chứ?! Là sự thật bẽ bàng hay có một mưu mô, một cái bẫy vô hình đã được giăng lên nhằm sát hạ không thương tiếc giữa các tờ báo là đối thủ cùng kênh, cùng đối tượng bạn đọc? Những cuộc họp liên hoàn lại tiếp tục từ sáng đến chiều nhằm cứu vãn tình hình.
Dương vẫn là tên cạo giấy, chữa mô-rát hèn kém ăn lương. Anh chỉ biết căng toét mắt ra để cùng đồng nghiệp quẫy cựa vô vọng trong nỗ lực cải tiến cuối cùng. Anh săm soi đến từng dấu phẩy. Tờ báo sạch bong, không còn một lỗi chính tả nhỏ. Nhưng hiệu quả phát hành cũng không cải thiện được chút nào. Báo ế vẫn ùn ùn trả về.
Mỗi buổi sáng cầm tờ báo cũ lên, Dương cảm thấy rỗng lạnh như đang thọc vào gương mặt thớt bì bẹt. Cô hoa hậu lõa lồ lúng liếng cười với anh, vô cảm hệt như nhựa tái sinh. Tờ báo nhõng nhẹo, phô cứng như mảnh bìa trên tay. Một sự vô hồn đáng cảnh giác và âm u như cái chết, thiếu vắng bản sắc và cá tính.
Anh biết sắp kết thúc mà vẫn không thể tin. Mỗi ngày đi về vẫn mò mẫm với trái tim không hy vọng. Thật khủng khiếp. Dâng ngợp trong anh gánh nặng cơm áo vô hình. Thuyền sắp đắm cho dù ngày vẫn đẹp trời. Nó làm anh khó thở. Mà sao có thể thở nổi khi cả đám người đang treo lơ lửng trên trái bom nổ chậm. Tất cả sẽ nổ tung vào lúc bất ngờ nhất.
Khi cả bọn đang cười chẳng hạn. Dửng dưng như không mà tan nát từ lâu rồi. Không ai dám nghĩ khi con tàu đắm sẽ dạt trôi về đâu nữa. Ngày vẫn đẹp. Ngoài kia mùa xuân đang mon men tới gần. Có thể nghe hương vị Tết trong ngọn gió thoảng. Thuyền đắm vào mùa xuân. Rồi Dương tự an ủi, ai chẳng một lần trong đời phải chết. Nhưng cái chết có trống trải như bị mất việc làm không? Chắc phải ghê gớm hơn nhiều. Rồi lại tự an ủi, một lần và mãi mãi. Giãy giụa cũng không thể thoát. Mà tại sao cứ nghĩ đến sự kết thúc? Anh đúng là tên quá nhạy cảm, một kẻ rỗi hơi.
Nếu chỉ còn được một đêm vui thì cứ vui, vui tràn lên. Ai có thể biết những chuyện gì xảy ra trước một phút lúc mười hai giờ đêm, thời khắc chuyển của bóng tối và ánh sáng...
***
Vẫn có lúc Dương nghĩ khác. Buổi sáng đẹp trời ấy, nếu người bạn không hủy cuộc hẹn, anh không gặp khứa, hay giản đơn hơn là chịu khó bấm thêm một vài tên trong danh bạ điện thoại thì biết đâu đời anh đã thoát? Đã nhẹ nhõm? Chẳng biết được.
Cuộc sống vẫn ở thì hiện tại tiếp diễn. Ít ra thêm được vài ngày vui hay giả vui. Còn bây giờ cảm giác con thuyền sắp đắm ám ảnh không thể dứt được. Như một bức tranh. Ban đầu chỉ một nét. Hai nét. Rồi ba nét. Sau đó không còn đếm được. Nó đan kín, dày đặc. Một gam màu ảm đạm, một màn sương lạnh bao phủ cuộc sống anh.
Dương cố gắng xé toạc cái màn sương ấy ra để nắm, để đếm từng nét, sắp xếp lại xem thử có thể giải quyết được gì không. Nhưng sương mỗi lúc càng dày. Màu mỗi ngày càng tối sẫm. Nỗi cô đơn băng hoại xâm chiếm bờ cảm xúc. Anh không thể tháo gỡ được sự hỗn loạn. Dương buông xuôi khi con tàu bắt đầu chuyển tư thế. Cái mũi phía trước chúi xuống biển khi những trận sóng ướt lạnh tới tấp đổ rào rào trên boong. Bầy ó biển kêu lên những tiếng lạnh người. Chúng xâu xé, táo tác trên biển cả. Chúng đánh hơi thấy mùi của một bữa tiệc phủ phê. Mùi máu tanh trên sóng.
Dương không còn cảm giác hãi sợ nữa, nhìn thoảng quanh xem bạn bè đang ở đâu. Chẳng còn nhìn thấy ai. Tất cả đã xô dạt ở đâu đó. Rồi một ngọn sóng lớn chồm lên, ngoạm mất mũi thuyền và xé toạc cột buồm. Trong gió, một cái cây khổng lồ nghiêng nghiêng rồi đổ ụp xuống sàn nước, dội lên âm thanh như núi lở.
Không còn nhìn thấy gì nữa. Nước cuốn réo cuồng nộ. Bốn phía tung xé mưa gió bão táp. Trong mắt anh là một màn sương, sau đó các điểm mịt mờ dần. Anh muốn kêu lên nhưng không thể. Một dòng nước mặn đắng như muối cào xé lở lói cuống họng anh...
***
Dương tỉnh dậy, ú ớ. Thì ra là một giấc mơ. Tay chân anh lạnh toát, đầu ong ong. Đã quá nửa đêm. Căn nhà chìm trong giấc ngủ. Anh cảm thấy khát cháy cổ, mở cửa đi ra ngoài tìm một cốc nước. Giấc mơ biển cả làm hồn anh khô kiệt nguội đắng. Bây giờ anh có thể uống cạn cả một dòng sông.
Anh bó gối ngồi mông lung trong đêm tối. Thật lạ. Con thuyền đắm và biển cả hiển hiện quá rõ nét trong giấc mơ anh. Hoàn toàn không có hình ảnh cô đơn nhẫn nhục của gã cạo giấy ăn lương và tờ báo không phát hành được cuối mỗi tuần ùn ùn đổ về khiến cả tòa soạn ngả nghiêng như bão.
Dương vẫn lang thang trên biển như ngày xưa, khi còn là đứa trẻ. Biển gắn với anh sâu đậm đến nỗi không thể tách nó ra khỏi tuổi thơ. Mặc cho bão tố đang ở đâu ngoài xa kia, những ngày hè nóng nực, anh và bọn trẻ gần như thả dài rong hoang trên bãi vắng. Cả bọn thường chạy đuổi nhau bên những chiếc thuyền đánh cá ngoài khơi về.
Những người đàn ông, đàn bà khuôn mặt nứt nẻ khổ đau, u uẩn, quang gánh, rê lưới. Vào mùa khô hay những ngày biển động, Dương vẫn thấy họ. Trên mặt biển nhấp nhô những riềm lưới bủa vây không thể thoát, dù xa xa là chân trời viễn mộng. Họ bám vào biển như bám vào mặt cuộc sống. Và tất cả nhấp nhô, dập dềnh, khép kín như cuộc đời họ.
Cho đến tận sau này anh mới nhận ra cuộc sống anh cũng thế. Xô động như mặt biển. Nếu như họ nhẫn nhục vớt lên từ lưới những con cá thì anh cũng cần mẫn, đọc chữa những lỗi mô-rát trên trang báo. Ngày mai, khi những con cá hay tờ báo được bày biện đẹp đẽ trên mâm ăn hay tâm hồn, hoàn toàn không có ai nhớ đến những bóng hình ẩn nhẫn phía sau. 
***
Cho đến một buổi sáng, khi từ thang máy lên phòng làm việc, anh đã thấy bóng con thuyền đắm chấp chới. Từ biển xa, con tàu đã về rất gần với những vẫy gọi rét mướt. Dương thấy ngột ngạt như con cá đang bơi ngược vào ngách cụt.
Dưới cái màu xanh thẳm ngỡ miên viễn vô ưu của đại dương, con cá lạc đường ngửi thấy mùi lưu cữu, mục ruỗng ngàn năm của rong tảo. Đôi khi sự chết đắm trong một màu xanh miên man ngây dại. Con thuyền cũng đã đi qua tọa độ dấp dính giữa bình yên và giông bão. Cũng giống như anh, từ nay về sau mãi mãi không còn như trước.
Đôi khi chúng ta chết già vì một bản tin mà không thèm kiểm chứng. Người chết không vì nguy hiểm mà chính là sự cô đơn, khô úa héo tàn. Người ta chờ đợi điều gì khi cuộc đời là sự mở đầu và kéo dài của những chuỗi thất bại? Ôi, cái tin buồn đã bắt đầu trong buổi sáng đẹp trời. 
***
Sáng nào trước khi đi làm Dương cũng vào vai một khách bộ hành bận rộn, tạt qua vài sạp báo bên đường để hóng hớt tin tức. Anh loay hoay tìm kiếm rồi tim rộn lên đập mạnh khi nhìn thấy măng-sét tờ báo thân yêu của mình. Niềm vui bóp thắt lại tê tái khi anh thấy nó bị dạt vào một góc và bị bao tờ khác đè lẫn lên. Giữa một biển báo chí, mỗi tờ báo là một con thuyền tung buồm ra khơi. Dù nằm khuất phía dưới, con thuyền bé bỏng thân yêu ấy vẫn hét gọi anh một cách tuyệt vọng.
Hình như độc giả đã lãng quên nó. Nó vẫn ra đúng kỳ, vẫn âm thầm xuất hiện một cách kiên nhẫn. Nhưng hình như độc giả đã lãng quên. Tờ báo như đứa con bị từ chối. Mỗi quầy chỉ nhận một, hai tờ chiếu lệ rồi nhét vào một góc khuất nhất.
Dương buồn bã nhận ra thân phận hẩm hiu của mình cũng lặng lẽ đánh chìm vào một góc khuất như vậy. Đâu ai hay biết anh vẫn khát khao sự sống mỗi ngày, trong mỗi dòng mô-rát, khi căng mắt rà soát cho mỗi dòng tin.
Bây giờ tờ báo nằm lờ mờ, xa lạ như gương mặt của người bệnh. Nhưng dù đứng ở góc nào của sạp báo Dương cũng nhìn thấy ở nó một sự thực. Rằng nó là một cánh buồm quá lạc loài giữa biển cả tin tức. Anh đau xót nhớ về nó. Nó đang chết trong lòng độc giả. Nó đang ở những giây hấp hối cuối cùng...
***
Một đêm khi đang làm việc, Dương thoáng thấy một người khách lạ đi vào phòng. Tự y kéo ghế ngồi một góc. Y chẳng làm gì và chẳng quấy rầy ai hết. Chỉ ngồi thế thôi. Hình như y đã đặt thuê văn phòng này nếu tờ báo công nghệ dọn đi. Chỉ là vấn đề sớm muộn.
Y ngồi đó với gương mặt thân thiện, đôi mắt mở to hớn hở, nhưng không ai buồn đến bắt chuyện. Cứ như vậy, một tuần sau thì y mở máy tính chơi game. Y say mê cuộc đấu đến độ chẳng còn chú ý đến ai. Y doãi chân, doãi tay thoải mái như đang là chủ nhân của căn nhà.
Có lẽ cho đỡ mỏi mắt, y ngước lên nhìn những bóng người vác từng chồng báo ế chạy ra vào loăng quăng. Y thở dài thườn thượt.
Dương thấy xa lạ với công việc diễn ra, như sục tay vào biển tin tức nhạt nhòa, lạnh lẽo vô cảm như những xác chết. Một nỗi kinh tởm táng tận. Ngày xưa anh chưa từng như thế. Anh  sửa chữa những bản tin với nụ cười trên môi khi hình dung bạn đọc thú vị thế nào vào buổi sáng mai khi cầm tờ báo. Còn giờ, anh nhận ra mình bu bám vào bàn phím như một quán tính.  Mỗi tiếng gõ vang lên như một cục đá ném vào tai. Càng gõ càng hoang vu. Mỗi dòng tin khác gì bản cáo phó chỉ còn chờ điền tên người gửi.
Một cái ngách nào đó đang trổ vào lòng Dương. Con tàu đang vào vùng biển dữ. Người lạ đã xuất hiện. Dương nhìn người khách lạ đang chơi cờ rồi đờ đẫn nhìn tờ báo.
Dương cứ phấp phỏng tuyệt vọng với con tàu đắm. Cho đến một hôm, lúc tờ báo đã hoàn thành vào nửa đêm thì có thông tin, không còn tiền để in nữa. Lúc đó anh đang thiếp đi. Điện thoại đổ chuông liên hồi. Anh đang mơ thấy phép lạ: con thuyền vẫn vực được dậy sau bão. Một thủy thủ tìm thấy vết nứt trên thuyền và tất cả xúm vào tìm cách bít lại. Nước trong khoang được điên cuồng tát ra. La bàn đã gãy. Mỏ neo đã vuột vào lòng biển. Chất đốt cạn kiệt. Tiếng máy nổ khen khét giật lên giữa mênh mông đại dương nghe như tiếng kêu của những con ó biển. Những tiếng kêu sắc nhọn như móng vuốt bấu vào rứt từng mảng thần kinh trong đầu Dương. Anh toát hết mồ hôi, bủn rủn, buốt lạnh cả người vì đau đớn.
Giật mình, Dương tỉnh dậy giữa đêm tối. Thì ra điện thoại đang réo vang. Tin báo làm anh không thể ngủ tiếp được. Tan nát mọi hy vọng, nỗ lực cuối cùng…
***
Trời hửng sáng đã thấy một gã đàn ông hớt hải chạy ra sạp báo. Cái bóng trông quen quen, giống như Dương, nhân viên cạo giấy.
Sáng nay, trên ti vi đưa tin, hôm qua ở duyên hải miền Trung có một cơn bão cực lớn thốc vào bờ. Biển động dữ dội. Nước dâng lên rất nhanh do mưa lũ lớn. Rất nhiều tàu thuyền không liên lạc được với bờ. Không biết chúng có tìm được vụng biển để tránh bão tố hay không. Những câu hỏi nhức nhối mà các phóng viên truyền hình tìm cách kết nối với các đội cứu hộ bờ biển để tiếp tục cập nhật.
Mưa gió đang ở đâu đấy nhưng phương nam vẫn nắng ấm. Mặt trời như thức dậy muộn. Những tia nắng ấm như len vào những đám mây vảy cá đang trôi như huyền thoại.
Dương mệt rũ, chìm đắm trong biển thông tin bão tố. Hình ảnh những con thuyền mất tích trên biển giày vò anh. Anh cố trấn tĩnh để tìm con thuyền của riêng mình. Liệu nó có từng tồn tại hay không?
- Ông cần gì? - Gã bán báo, mắt xếch, râu quai nón dữ dằn, hất hàm hỏi anh. Dương khẽ khàng nói nhỏ tên tờ báo và cúi nhìn. Trên cái sạp mênh mông trôi nổi vô số tờ báo, tạp chí cái treo, cái nằm, màu mè nghiêng ngả…. sao vẫn thấy trống trải và xa vắng.
Một con thuyền đã bị đắm trên biển cả.
Cúi xuống, loay hoay tìm mãi vẫn không thấy. Ngước lên, đầy vẻ hồ nghi, gã râu rậm nhắc lại câu hỏi. Dương lại chầm chậm đọc rõ từng chữ tên tờ báo muốn tìm, hồi hộp chờ đợi.
Rồi Dương nghe bên tai một giọng nói như ngọn gió xa lạ:
- Xin lỗi! Hình như có nhầm lẫn gì đó. Tôi chưa từng nghe cái tên này bao giờ…
***
Tất cả đều có thể. Vào một ngày đẹp trời…

Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2010

Phía sau nỗi buồn

Trưa, khi ngồi trên máy bay đi vào vùng bão mà mãi không hạ cánh được, tôi đã tự hỏi liệu mình có chết lúc này không. Và cái chết có thực sự đáng sợ lắm không? Tôi đang bay cùng chiếc Boeing 747 loại mới, thế mà nó chỉ như một cái lá trong cơn bão. Người ở những hàng ghế bên đã vội vã tìm túi nôn khiến mũi tôi cay cay. Ừ, liệu cái chết có đáng sợ lắm không nhỉ? Hôm nay là ngày thứ tám hay thứ chín gì đó của Olympic Atlanta, có lẽ tôi sẽ không kịp xem Carl Lewis nhảy xa hay Michael Johnson dứt điểm cuộc chạy 400m như thế nào. Trước Olympic hai ngày, một chiếc TWA-800 của Mỹ rơi ngoài đại dương. Những hình ảnh kinh hoàng đó phủ đầy các kênh truyền hình trong những ngày qua. Những khuôn mặt thất thần, những dáng ngồi chờ đợi. Kinh hoàng cho những người ở lại. Còn những người đi trên chuyến bay đó còn lại gì? Chỉ là một dấu chấm hết to tướng mà thôi. Cô tiếp viên hỏi tôi, “Anh cần thêm túi nôn không?”. Tôi không đáp được, tôi mệt lắm, vả lại tôi đang bận nghĩ. Thế đấy, cái chết thật ra chỉ dễ sợ khi người ta ngồi mà chứng kiến hay ngắm nghía, chứ một khi nó đã đến thì không có gì để nói nhiều. Chấm dứt mọi chuyện. Trong một tích tắc chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác. Mãi mãi như thế.

Máy bay cứ nhồi lên nhồi xuống tìm cách hạ cánh. Tôi ngồi ngay cửa thoát hiểm thấy cái cánh dài của nó nghiêng ngả phe phẩy như quạt. Các cô tiếp viên bận bịu túi bụi, tóc tai xổ cả ra. Những chiếc áo hồng giờ cứ nhòe nhòe như những vệt màu ướt. Nào chăn nào nước nào khăn. Cổ tôi đắng nghét. Nếu chết mà lại nhẹ nhàng như một dấu chấm hết thế kia thì cái gì mới đáng sợ nhất nhỉ? Tiền bạc à? Cũng không. Thời buổi này có bị đẩy ra đường với hai tay trắng cũng khó mà chết vì đói rũ. Sự nghiệp à? Cũng không. Thành bại cũng là một cái gì đó mơ hồ lắm. Thế thì gì? Nhất định phải có một cái gì đó khiến người ta sợ, người ta bất lực, chứ nếu không, ai cũng vênh vênh váo váo cả thì loạn mất. Tiếng tiếp viên nói qua loa nhỏ: “Máy bay chúng ta sẽ quay lại N. chờ hết bão”. Giọng này rất hợp với kiểu nói: “Ghét anh quá đi thôi !”. À, tôi nhớ ra tôi đang đi đâu. Tôi đang chạy trốn. Khi trốn là đã biết sợ rồi. Vậy thì có thể kết luận ngay rằng, sợ hơn cả cái chết, là nỗi buồn.

Không ai có thể vo viên nỗi buồn mà ném ra ngoài cửa sổ, dù biết giữ trong lòng là héo úa lắm, bức bối lắm, không thoát được. Lúc ngồi ở phòng chờ tôi lang thang xem hai tay thanh niên người Pháp tóc vàng hoe mồ hồi mồ kê nhễ nhại đá cầu, trong khi nhân viên sân bay cứ thắt thỏm không biết nên cấm hay nên cho phép cái trò chơi quá đỗi tự nhiên bụi đời này. Tôi len vào giữa cả bọn và nhặt được một tờ chuyên đề điện ảnh đầy những câu vớ vẩn đặt ra cho mấy diễn viên Hồng Kông. Trong đó có ảnh một chàng bị thất tình nhưng mặt mày béo tốt chải chuốt khiến tôi dí mũi vào. Chàng kể, khi bị bồ bỏ, chàng đã quay về nhà mà khóc sướt mướt. Mẹ chàng mới bảo rằng, “Mẹ mong rằng ngày mẹ chết con cũng có thể khóc như vậy”. Câu này báo chơi chữ italic khiến tôi chạnh lòng hết sức. Và suốt buổi, cái câu nói có tính giáo dục cao ấy cứ ám ảnh tôi mãi. Quả thật, buồn bã bởi yêu đương chỉ là trò của con trẻ, đứng bên ngoài nhìn vào trông hết sức cải lương (xin lỗi !). Nhất người buồn lại là đàn ông. Tệ ! Nhưng đã nói rồi, làm sao mà thoát được đây. Du dương với một em khác ư? Càng chán chường ghê hơn. Ðọc truyện cười ư? Càng thấy nhạt nhẽo hơn. Và thế là tôi đã chạy trốn với đúng nghĩa của nó. Tôi bảo với Chi rằng, “Mọi chuyện khiến anh chịu hết nổi rồi. Anh đi một tuần”. Khi nói vậy, để giảm phần ướt át, tôi đã không chìa cho nàng xem cái vé đã mua từ lâu mà chỉ bình thản quay đi một cách ấn tượng. Chi đau khổ,”Anh đi thật sao? Anh đi thật sao?”. Cái câu đầy yêu thương ấy cứ ám ảnh tôi mãi, và nó là biểu hiện vật chất của nỗi buồn khủng khiếp mà lâu nay tôi không sao diễn đạt được.

Ở N., suốt hai tiếng đồng hồ gặm cái bánh mì tròn dai nhách có kẹp chả mềm cùng một ly nước ngọt, tôi chỉ biết nhìn ra ngoài cửa kính, ngắm mây bay phù phù qua núi mà không nghĩ gì. Hình như tôi có ngủ chập chờn một lát, chân gác lên cái túi du lịch. Bên cạnh tôi, một gia đình trẻ chiếm hẳn chiếc ghế dài. Ðôi vợ chồng rất đẹp. Người đàn ông vạm vỡ, mắt kính đen sang trọng. Người vợ da nâu, mũi thẳng và mắt thì có cái nhìn đầy như muốn hớp hồn người ta. Suốt buổi, hai vợ chồng không nói với nhau một lời nào. Chỉ có con bé con chạy qua chạy lại giữa hai người, liến thoắng. Ðó là một con bé có khuôn mặt người lớn, mà bất hạnh thay, khuôn mặt ấy xấu xí lạ lùng. Nó chạy quanh phòng đợi và thỉnh thoảng lại lâm vào ngõ cụt. “Chú để chân xuống cho cháu qua nào !”, nó nói với tôi, giọng nhanh và chuẩn. Cứ thế, con bé chạy qua chạy lại nhưng không tỏ vẻ tha thiết với người nào và trí tưởng tượng nghèo nàn nhưng rảnh rang của tôi bắt đầu vẽ nên một câu chuyện có chiều hướng không tốt lắm với những gì mình nhìn thấy. Thêm hai tiếng đồng hồ trôi qua nữa, trời tối dần và trên đầu núi mây bay chậm rãi hơn nhưng vẫn dày đặc khiến giữa cái sân bay xa lạ này tình cảnh mọi người nom càng có vẻ thê thiết giả tạo hơn. Ðúng sáu giờ chiều, tiếng tiếp viên hàng không lại vang lên, rõ ràng mạch lạc, “Bão tan”. Lần này là giọng tự tin của người không còn nợ nần gì ai nữa. Giọng này rất giống kiểu nói “Thôi đi !” của Chi khi em phủi tay. Gia đình con con bên cạnh tôi thu xếp đồ đạc. Người phụ nữ kéo lê túi xách đi trước, đứa trẻ thì nắm chặt tay cha dẫn đường. Ðó là một người đàn ông khiếm thị. Ðường xuống cầu thang đông nghẹt người ùn lại, gia đình ba người đó nép vào một góc. Ðứa bé vẫn nắm chặt tay cha, còn người phụ nữ thì vén tóc duyên dáng, mắt nhìn qua tôi vẫn rất đầy, bình thản. Tôi xách cái túi nhẹ bỗng của mình lên, lòng nhen nhóm một nỗi hổ thẹn nho nhỏ.

Tôi về được đến nơi là trời đã tối mịt. Phòng trải thảm. Giường, tủ, bàn ghế chạm trổ linh tinh, rối rắm. Tôi tắm rửa rồi nằm dài trên giường. Lúc ấy, tôi nhớ đến cồn cào những ngày vừa qua. Tôi là một con người mềm yếu. Mềm đến nỗi có thể ra thơ được. Ðại khái như thế này.

Em có biết một điều này không
Chia tay
Nào phải chỉ xa một người
Mà là chia tay một thời
Và mình sẽ thành người khác.

Hôm trước biết được lý do tôi đi, Nhàn cười mà rằng.

- Mày biết nguyên nhân không?
- Không.
- Thế này, nguyên do là nàng không hiểu được người yêu của mình là ai. Bởi ngay chính chàng cũng không rõ được chàng đang đứng ở đâu kia mà. Làm thơ không thôi thì sợ đói, làm ăn không thôi thì sợ héo. Chàng bay ở lưng chừng, không biết nên đáp xuống hay cố lên cao hơn. Cái đó là ảo tưởng về một sự dung hòa? Hay tham lam nhỉ ?

Tôi im lặng.

- Bi kịch đấy bạn ạ. Tình thần và vật chất, bạn muốn xơi món nào ? Một khi đã dính líu đến thơ thẩn rồi, nếu có thực tài thì vẫn sống được. Nếu mà biết điều thì cũng sống được. Chỉ vừa không có tài mà lại không biết điều nữa thì mới toi thôi. Tớ thấy bạn cũng ra nòi biết điều đấy, cũng biết hòa hợp đấy, nhưng sống như vậy thì dễ lẫn lộn, không thật, khiến người ta không hiểu được mình. Bi kịch chứ chẳng chơi, bạn ạ.

Tôi nằm vắt tay dưới đầu. Cái đồng hồ đeo tay cứ tích tắc, tích tắc như tiếng búa gõ xuống cạnh giường, mỗi lúc một lớn tiếng. Trong một phim hoạt hình về vịt Donald cũng có cái kiểu hành hạ này, từ trong buồng tắm nước cứ nhỏ từng giọt, từng giọt thong thả với dáng vẻ của một tay đao phủ nhịp nhịp đao khiến vịt ta tức lộn ruột. Cái đó gọi là stress . Với tôi, stress đó là lúc chạy lên chạy xuống cầu thang mà không biết để làm gì, hay đứng trước máy photo thì cứ thần người ra mà chọn giấy A3 với A4, cũng chẳng để làm gì cả. Ở nhà, stress là lúc ngồi mãi mà không viết xong một bức thư, hay lồng lộn đi tới đi lui trước cái máy điện thoại cứ im ỉm lầm lì như một hòn đá.

Giữa mọi người, sếp bảo, giọng lạnh tanh.

- Bao giờ muốn đi đâu anh phải báo cho tôi biết trước.

Thật ra trong tiếng Anh muốn đổi anh, tôi thành mày, tao thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến câu cú ngữ pháp. Và chỉ có thế là cũng đủ bị stress rồi. Cùng ngày cùng giờ, sếp của Chi mới nói với cả bọn rằng.

- Chúng bây chớ ăn trưa trong phòng nữa. Nước mắm hôi lắm tao chịu hết nổi rồi. Phòng làm việc mà cứ như một cái chuồng.



Mày, tao đó là cách dịch của Chi. Tối đó chúng tôi ngồi ngoài quán Cái cân. Cái cân là tên chúng tôi đặt cho những chiếc cần cẩu khổng lồ sáng lóa đèn đang với tay lên những tầng cao. ở đó có những ghế đôi hết sức mượt mà, nơi quyến rũ chúng tôi suốt những tháng đầu yêu nhau. Tôi ngồi như nằm ngửa, mặt ngước lên trời, thấy buồn ngủ quá.

- Anh đang nghĩ gì đấy ?
- Chẳng nghĩ gì cả.
- Tại sao anh giấu em chứ.
- Anh giấu em làm gì nào. Ðơn giản là anh không nghĩ gì cả.
- Anh không nói thật.

Tôi đã tỉnh ngủ hơn nhưng vẫn không biết nói gì. Yên lặng. Chi xoay xoay ly nước, nói.
- Em xoay mãi ly nước này là chóng mặt ngay.
- Em ngừng lại đi.
- Việc gì phải ngừng.
- Em sẽ chóng mặt đấy.
- Làm sao anh biết.
- Thì em đã nói đấy thôi.

Chi cao giọng.

- Anh chỉ biết những điều mà em nói ra thôi, còn những điều em quan tâm thì không bao giờ anh nghĩ đến cả.

Vẫn như mọi lần đây. Những lúc này đầu óc của tôi hóa mụ mị lắm.

- Vậy em muốn gì? - Tôi gắt.
- Nó nói như là một cái chuồng mà anh chịu được à. Anh phải có thái độ chứ. Anh phải hét lên chứ.
- Em à, anh cũng có những vấn đề của anh.
- Em không cần biết. Em ghét anh lắm. Em chán anh lắm.

Cái cân đong đưa qua lại, nhấc từng cuộn thép khổng lồ đưa lên tầng cao. Thành phố rồi sẽ có khoảng năm mươi nhà cao tầng mới toanh như thế này trong thời gian tới. Hàng chục ngàn người sẽ làm việc trong những ngôi nhà đó. Tường dán giấy mịn, sàn lót thảm len, đi không nghe tiếng, rất êm. Bao nhiêu người sẽ vào ra những nơi ấy mà không hề hấn gì ? Tôi nghĩ là em đang căng thẳng quá đấy thôi. Tất cả là do chúng ta sống hơi nhanh quá đấy mà.



Mà không sống nhanh thì sẽ rớt lại ngay. Chỉ mới đôi ba năm trước thôi, chỉ cần một cái Anh văn bằng B xoàng xĩnh là đã có việc, còn bây giờ thì gay đấy. Tôi bỏ ra bốn năm trời với những thứ Hai, thứ Tư, thứ Sáu liên tục, qua hết những mùa nắng mùa mưa, lấy cho được một cái gọi là bằng cử nhân tiếng Anh chỉ để rồi nhận thấy rằng có những điều còn đi nhanh hơn cả những toan tính của mình. Ðó là sự thay đổi. Lúc này, biết làm việc không thôi vẫn chưa đủ, mà còn phải biết dự đoán nên làm gì để chuẩn bị cho những cơ hội sẽ đến. Tôi thì thuộc loại thiển cận. Tôi đang lục cục học tiếng Nhật . Khi mà mọi người đã nhuần nhuyễn bảng chữ katakana thì tôi hãy còn gặm nhấm hai mươi chữ hiragana đầu tiên, và điều thu thập được không phải là một ngôn ngữ mới mà là phát hiện về sự lão hóa nhanh chóng của mình. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sa sút ấy là do đêm đêm, khi ngồi dưới ánh đèn bàn vàng vọt, tôi không thể nào tập trung được bởi cảm giác về một khoảng không sâu hun hút và lạnh lẽo phía sau. Ðể giải quyết tình trạng này, sau khi nghe những lời than vãn của tôi, Chi đem từ ngoại thành về rất nhiều những mặt nạ làm bằng đất sét và treo đầy bức tường trống trải đó. Căn phòng quả nhiên ấm cúng hẳn lại nhờ những khuôn mặt đất được vẽ bằng những sắc màu nóng, đậm và hung dữ. Lúc ấy, tôi cho rằng chúng chẳng qua chỉ là những cái mặt nạ bình thường chứ không ngờ rằng chính chúng là thước đo lượng tình cảm của hai đứa. Rất nhanh sau đó, màu sắc phai nhạt dần, những má hồng chuyển sang màu đất. Trên những khuôn mặt đã bắt đầu có những vết rạn nứt. Vào những khoảng thời gian vui vẻ hiếm hoi xen giữa những cơn giận điên dại của Chi, chúng tôi ngồi hì hục lấy nước cùng đất sét non trám vào những vết chân chim hòng đem lại sự láng lẩy xưa. Nhưng vô ích. Ðất cứ rã ra như tấm, rơi xuống. Chi cũng mỗi ngày một nhạt nhẽo hơn. Ðó là thời gian cực kỳ khó khăn. Có những đêm tôi không ngủ cho đến sáng, mắt ráo hoảnh. Trong bóng tối, những vết vỡ trên mặt nạ cứ lồi ra lõm vào như những vết thương, và màu thì cứ như máu khô sẫm lại. Còn Chi liên tục trong nhiều đêm liền ngủ trong ác mộng với những người đàn bà xõa tóc thường trực ở đầu giường hay những bàn chân im lặng đi đi lại lại trên nóc mùng. Cả hai kể cho nhau nghe những câu chuyện ấy, lấy làm kinh ngạc về sự tương thích của chúng nhưng không tìm ra được một nguyên nhân chính xác nào cả, cho dù tôi có thú nhận rằng đã xem phim Pulp Fiction những ba lần, hay Chi, ai cũng rõ là một chuyên gia về những phim tâm lý xã hội Hồng Kông. Thế là cái gì đến đã đến. Tuần rồi, khi một nửa cái mặt nạ rơi xuống sàn như quả bom nhỏ làm bốc bụi mờ mịt, Chi nhìn tôi rồi thâm trầm nói.

- Thế là hết.

Tôi cũng nói, vớt vát.

- Có lẽ chúng ta nên xa nhau một thời gian.



Trong khách sạn tivi có liên tục 24/24 nhờ cái ănten kiểu dáng cong cong như một rađa nhỏ. Loại này nghe đâu thường dân muốn lắp cũng được, mất chừng 300 đô cho cả công cán lẫn trang thiết bị. Ở đây hẳn sẽ rẻ hơn chút ít. Người ở thành phố lớn đi đâu cũng hay nghĩ những gì của mình cũng là tốt nhất, đắt nhất. Tôi cũng thế đấy. Nhưng không hại gì, đơn giản chỉ là vấn đề tâm lý thôi. Nói về tâm lý, tôi chợt nhớ đến cô bé mới vào làm chung. Người Huế nhé, cực kỳ xinh xắn nhé, nhưng chỉ phải tội nói hơi nhiều. Nguyên nhân chính là gì? Mất chừng một tuần tôi phát hiện ra nói nhiều thì ai cũng nói nhiều (mọi người hễ bắt trúng đài là nói nhiều ngay), nhưng em gái này dễ bị có cảm giác nói nhiều hơn tất cả bởi thích nói về cái tôi, hay của tôi. Mà quả thực, tôi là một đề tài vô tận lại khó phát hiện vì cách đề cập đã trở nên quá tinh vi rồi. Chẳng hạn, một ai đó chỉ vào tủ kính mà khen, “ Chà, cái áo ấy đẹp quá”. Em này sẽ trả lời, “Hồi trước sếp em cũng tặng em một chiếc như thế”. Hay xa xôi hơn, “Nhỏ bạn em cũng có một chiếc như thế”. Mọi người cứ ngạc nhiên không hiểu sao cô bé này có thể tham gia vào tất cả mọi câu chuyện một cách trôi chảy tự nhiên như vậy, ngoài tôi. Nhưng bất hạnh thay, trong cái tuần dày công nghiên cứu ấy, tôi cũng phát hiện ra chính mình cũng mắc phải căn bệnh đó, và phát hoảng. Ðấy không phải là chuyện chơi, đấy là một cơn dịch thật sự, thế hệ này lây cho thế hệ khác. Người này không bao giờ muốn thua kém người kia, rằng, “Bạn mày như thế này hả ? Tao cũng biết một người như thế”. Hay tồi tệ hơn, như thế này. Năm ngoái, tôi nằm viện mổ ruột thừa. Chú tôi đến, ngồi bên giường bệnh, câu đầu tiên là, “Mi bị ri nhằm nhò chi. Tau còn có lúc tưởng bị ung thư nữa ấy chứ”. Sau khi phát hiện ra điều đó tôi câm bặt suốt một tuần, nhưng sự ăn năn ấy đã quá muộn màng và chỉ sau một tuần tôi lại trở về nếp cũ.

Bà con xa lâu ngày không gặp hay hỏi, “Công việc của mày là gì ?”. Tôi trả lời. Sau đó thể nào cũng nghe hỏi tiếp, “Nhưng cụ thể là gì?”. Những lúc ấy tôi đã cố gắng trình bày toàn bộ những gì mình thường làm trong một ngày để minh họa. Thế nhưng càng trình bày thì lại càng rối rắm. Tôi kinh ngạc nhận ra chỉ có 20% là khối lượng công việc ra việc thật sự. Còn tất tần tật những phần trăm khác chỉ là một mớ hỗn độn vặt vãnh không có tên gọi, và có lẽ, không có ý nghĩa nữa. Khốn khổ thay, chính sự vô nghĩa ấy đôi khi mệnh hệ làm sao.
- Anh đừng có mà nhăn nhó thế.
- Có gì đâu.
- Có. Em cảm thấy rõ ràng như vậy.
- Em nhạy cảm quá.
- Có gì anh cứ nói thẳng ra đi.
- Không có gì. Chuyện vặt.
- Có phải do em đến muộn không ?
- Rồi sao nữa? - Em phải làm nốt công việc, anh biết chứ?
- Biết, biết. Bảy giờ, tám giờ, chín giờ... lúc nào cũng công việc. Vô tận.
- Thế thì chỉ nên gặp nhau một lần vào Chủ nhật vậy.
- Ðược thôi.

Yêu đương là cả một quá trình. Thế này, ban đầu là sôi nổi, vồ vập, quay quắt, săn đón, cường điệu, lúc nào cũng như điên lên, lúc nào cũng như chết được. Sau đó là những chuyện hết sức thường nhật, hết sức vớ vẩn nhưng luôn luôn mang một chút mệnh hệ nào đó. Gom nhiều chút đó lại thì có chuyện. Thật tình, ở tuổi này mà cứ lý sự mãi về thảm bại của những cuộc tình thì nghe kệch cỡm thật. Chỉ có là được hay là không. Biết yêu không? Biết giữ không? Và cuối cùng (mong sao không phải dùng đến) là biết cách chia tay không? Mỗi thứ đều phải học, học từ kinh nghiệm. Thảo nào, phụ huynh, cô dì, chú bác, cứ nhìn đám thanh niên yêu nhau mà thái độ điềm tĩnh bao dung làm sao. Nghĩ mà thẹn cho sự tự tin thái quá của mình.



Những ngày sau tôi hay ra bờ hồ. Bão đang nghỉ ngơi giữa hai lần đến, để lại một thành phố xác xơ trong cái oi nồng của một nồi xông mờ mịt. hơi nước. Suốt một dãy phố là những kem Pháp, kem Ý, kem Mỹ, nào là BASKIN ROBIN, hay 31 mùi...Kiểu trưng bảng Tây này mới hấp dẫn làm sao, không những ngon mà còn sang trọng nữa. Thế nhưng chúng vẫn không át được cái khung cảnh thân quen mà lạ lẫm của một bờ hồ đông nghịt người ra hóng mát. Ở đây, mỗi người như có một mảnh sân của riêng mình, tự nhiên, thân tình. Từng nhóm đánh cờ, những con cờ mẻ góc chạy qua chạy lại xành xạch trên những bàn tay cũ kỹ của tuổi năm mươi. Ðám thanh niên ngồi trên bờ đá xem câu cá, nghe dây câu bắn vun vút ra xa, như những tia nước mảnh dẻ mà sắc. Thỉnh thoảng một con cá bạc lấp loáng bị hất lên khiến cả một góc bờ hồ trở nên loạng choạng. Một ông cụ dắt xe đạp dừng bên cạnh tôi, thong thả gỡ chiếc ghế xếp xuống, rồi tìm nơi phẳng phiu mà ngồi hướng ra ngoài, hai tay đặt trên đùi, khuôn mặt da mồi nom bình thản lạ lùng. Tôi nghe nói dưới hồ này có những con rùa 300 hay 500 năm tuổi, ông lão này chừng bảy mươi tuổi, còn tôi hai mươi bảy. Tôi còn rất nhiều việc chưa làm ở phía trước, nhưng lúc này, tôi có cảm giác rằng, tất cả những gì tôi sẽ làm chỉ là một sự lặp lại những gì mà những người khác đã làm trong hàng ngàn năm qua. Nếu may ra sống được êm xuôi, một ngày hè oi nồng nào đó tôi cũng sẽ là một lão ông phúc hậu như thế này, tóc bạc da mồi như thế, bình an như thế. Lúc ấy, những lo toan phiền muộn về tiền bạc hay tình yêu hẳn phải nhường bước cho niềm vui được đón trọn vẹn thêm một ngày mới. Tôi sẽ ngồi bên một bờ hồ nào đó, trong khi ở nhà, một bà cụ (cũng phúc hậu) đang an nhàn với đám cháu chắt của mình. Lúc ấy cái xinh tươi trẻ trung của chúng ta bây giờ đã đi về đâu nhỉ? Lúc ấy mà bất chợt lỡ nghĩ về một thời yêu đương sóng gió, hay ganh đua thì sẽ có cảm giác như thế nào nhỉ? Và người đàn bà của tôi đó sẽ là ai trong tất cả những thiếu nữ mà tôi đã gặp, là em chăng? Hay là một ai khác? Càng nghĩ càng rối. Càng nghĩ càng quẩn. Và đỉnh cao của sự quẩn đó là vào lúc nửa đêm, khi tôi tỉnh dậy ráo hoảnh mà không có lý do nào cả.

Tôi cảm thấy mình đang ngủ và thức trong một chương trình định sẵn. Thật thế, thử liệt kê những chuyện không hề dự báo được mà xem. Này nhé: Năm 1995, tháng Bảy, đi Thái Lan (sự kiện này rất đáng kể vì cho đến nay đi được nước ngoài hãy còn là một nỗi tự hào âm thầm), tháng Tám, Chi xuất hiện. Tháng Chín, tháng Mười và những tháng tiếp theo không có gì đặc biệt ngoài những cuộc vui liên tiếp. Năm 1996, tháng Hai, tháng này là đỉnh cao của sự vui tươi, tôi nói với Chi là”Chúng ta sẽ lấy nhau nhé”, Chi cười. Tháng Ba, sau Tết ai cũng mệt mỏi, Chi thường xuyên cáu gắt. Tôi bị kỷ luật. Tháng Tư, lần đầu tiên Chi nói chia tay. Tháng Năm, Chi nói chia tay hai lần, tôi nói chia tay một lần. Và những tháng sau là hỗn loạn. Ðấy, toàn là những sự kiện mình không thể lường hết được. Tôi ngồi thừ một lúc, đầu óc minh bạch hẳn ra. Những phiền muộn rất nhỏ không sao giải quyết được ấy chỉ chứng tỏ một điều là, đường đi nước bước của mỗi người đã được chương trình hóa sẵn rồi. Và có thể kết hợp khoa học kỹ thuật với duy tâm mà rằng, có một cái computer khổng lồ và siêu việt ở đâu đó đã hoạch định đời sống của mình. Kiểu lập luận này mà va phải những cái đầu chứa đầy sách vở của đám em trai, em gái ở nhà thì thể nào cũng có một cuộc tranh luận nảy lửa. Nhưng liệu chúng có biết rằng, nỗi buồn, thì không thể nào vo viên ném ra ngoài cửa sổ được không? Và phải có một lối thoát nào chứ. Ðỉnh cao của sự quẫn trí ấy cứ kéo dài cho đến bảy giờ sáng và chấm dứt bằng một cú điện thoại bất thường của mẹ tôi gọi ra. Nói là bất thường, bởi vì theo quan niệm đúng đắn của bà, điện thoại đường dài luôn luôn đắt một cách bất hợp lý. Mẹ thông báo rằng, Chi sáng nay đã đem trả lại hết những vật kỷ niệm. Rồi hoang mang, mẹ hỏi.

- Phải làm gì đây ?
- Cứ giữ lấy, mẹ ạ. - Tôi nói.
- Thế con... - Mẹ nói, giọng thương xót.
- Không có gì. Không sao đâu. - Tôi đáp.

Tôi bật tivi. Bản tin sáng có nhấn mạnh là Carl Lewis đã đoạt huy chương vàng nhảy xa nam và Michael Johnson thống lĩnh đường chạy 200m và 400m với một kỷ lục Olympic và một kỷ lục Thế Giới. Những tay này phi thường thật. Nếu thi đấu mà cứ phân tâm vì vợ ở nhà kèo nhèo suốt thì còn làm ăn được gì. Lắm lúc phải công nhận sống thiên về tình cảm quá cũng hỏng việc. Chỉ cần biết mình phải làm gì, và tập trung làm cho được điều đó là xong. Tôi mở nhạc thật to và thu xếp vali. Lẫn giữa áo quần là cuốn album một thời đã như là vị thần hộ mệnh không rời. Này là ở biển. Này ở trên tàu. Này là buổi chiều. Chi cười rất tươi. Cuối cùng là hình Chi ở chùa trên núi, đứng bên cạnh một tấm biển khắc chữ vàng. Mặt em kênh kênh, lơ láo mà vui tươi lạ. Biển đề:

Tự mình điều ác làm
Tự mình làm nhiễm ô
Tự mình ác không làm
Tự mình làm thanh tịnh
Thanh tịnh không thanh tịnh
Ðều do tự chính mình
Không ai thanh tịnh ai 


Tôi thiệt tình muốn suy nghĩ sâu hơn nữa về những điều trong tấm biển đó, vì thích cái không khí phiêu diêu ngồ ngộ trong từng dòng chữ. Nhưng xung quanh hỗn độn quá. Nhạc thì đang chuyển qua một trong những bài thời thượng nhất của Michael Learns To Rock. Tivi chiếu đi chiếu lại hết cảnh Carl Lewis ba mươi lăm tuổi nhảy bước phi thường nhất trong đời mình, lại đến cảnh Michael Johnson quấn cờ Mỹ chạy tung tăng khắp sân vận động, và xen vào đó là những mảnh vỡ cùng hành lý của chiếc TWA-800 vẫn bập bềnh trên sóng nước. Các cơ quan chức năng đang đặt nghi ngờ không biết tai nạn này là do lỗi kỹ thuật hay do khủng bố để rồi kết luận một câu mơ hồ đại loại: Còn lâu mới tìm ra !


Phan Triều Hải 9.1996

Một tối ngồi ở quán bar

Tôi nhớ là chưa bao giờ mình có được một đêm trung thu nào cho ra hồn ở đất Sài Gòn này ngoài việc năm nào cũng như năm nào đầu óc luôn bận rộn suy tính quanh quẩn với mấy loại bánh nướng, mấy loại bánh dẻo, nhân đậu xanh hay nhân thập cẩm, một trứng hay hai trứng, vi cá hay gà quay. Mà như thế nào đã đủ nhàm chán. Suốt mười mấy năm ở đây, tôi thấy cũng chẳng có mấy dịp trẻ con được cầm lồng đèn giấy chạy ra ngoài đường hưởng một trung thu khô ráo. Hiếm hoi lắm. Và đêm nay chắc cũng thế thôi, chắc cũng như năm ngoái, như năm kia, mà không chừng lại có phần thê lương hơn, bởi mưa đã bắt đầu tầm tả từ hai hôm trước, chừng mười hai âm lịch kéo dài cho đến tạn bây giờ. Mưa cho tới tận tối, khi tôi vào quán. Tôi phải chạy men theo cái hành lang hẹp tí xíu lợp mái rơm có nước nhỏ thành dòng, mà nhớ một cái thống kê khoa học mới công bố gần đây rằng, khi bạn thong thả đi bộ trong mưa thì sẽ nhận một lượng nước nhiều hơn khi bạn chạy từ ba mươi đến bốn mươi phần trăm, nói nôm na là sẽ bị ướt nhiều hơn. Và trong lúc tôi vừa đi vừa nghĩ xem làm thế nào để có thể từ mái hiên ấy chạy băng qua sân để vào được quán mà ít bị ướt nhất thì một giải pháp giản dị xuất hiện ngay trước mặt với cái mặt dài và một nụ cười đầy vẻ nghề nghiệp. Anh chàng phục vụ quen thuộc cũng y như lần cuối cùng tôi gặp, mái tóc gợn sóng và phong cách nhanh nhẹn, đứng đón ngay từ cuối lối đi với một chiếc ô căng rộng và áy náy bảo như thể đó chính là lỗi của anh ta, "Chà, mưa gì mà lớn quá chừng".
Quán hôm nay chỉ có mỗi hai người phục vụ, người kia trông có vẻ lớn tuổi và lặng lẽ mà tôi không quen. Tôi tự tìm chỗ ngồi bên cửa sổ. Bên ngoài trời đang đổ nước xuống một cái sân vắng tanh buồn hiu buồn hắt. Suốt từ sớm tinh mơ, bầu trời đã nhuốm một màu mờ mờ mịt mịt y như màu của mùa mưa bão miền trung, khiến không thể nào nhận ra được dáng vẻ của một thành phố lúc nào cũng sắc sảo với nắng, với gió, với khô hanh và khói bụi xe cộ qua lại ào ạt trên đường. Hồi sáng, tôi vào công ty, câu đầu tiên chào mọi người là, "Trung thu ở đây chán thật, năm nào cũng mưa lê thê". Lúc ấy, ai cũng ngẩn người ra, rồi tròn xoe mắt nhìn trời, rồi cố bươi móc trong cái trí nhớ già nua và hờ hững của họ xem liệu trung thu năm trước có thật là đã mưa không, rồi đưa ra một cái kết luận ba phải, "Làm gì có chuyện đó". Tôi không cãi được, bởi phải từng trải qua một đêm trung thu thực sự thì người ta mới biết mình thiếu gì. Họ ít ra cũng phải từng được hưởng những mùa trung thu năm nào cũng hứa hẹn như năm nào, trời khô mà xanh đen ngăn ngắt. Phía trên thành cổ, trăng từ từ lên như một ngọn đèn lồng đong đưa soi bóng xuống ao hồ, rót đầy thứ ánh sáng hư thực ấy vào những lá sen có phủ một lớp lông tơ mịn màng, khiến quanh đó ếch nhái bị đánh động bắt đầu cất tiếng, rộ lên nhịp nhàng bất tận như ru. ít ra họ cũng đã từng được đi chân trần trên những con đường đất lạnh, ngoằn ngoèo luồn qua xóm này xóm nọ, trên tay bập bùng ngọn đuốc tỏa ra một mùi khói thơm thơm, cay cay, nồng nồng của thứ lửa rất đượm từ lá. Và thế là trong tiếng trống rộn ràng, một trung thu nữa đến, dịu dàng thơ mộng như mọi lần, như một giấc mơ giản dị hiện ra trong một không gian khô ráo, trong vắt, huyền hoặc.
Tôi cứ nghĩ lan man mãi như thế cho đến khi người phục vụ quay lại.
- Anh uống gì ? Anh ta hỏi.
- Như mọi lần.
- à, tôi nhớ ra rồi. Anh ta ngẫm nghĩ một chút rồi đáp.
Lúc ấy, một thanh niên đẩy cửa bước vào, trông dáng vẻ rõ là khách quen, theo sau là một thiếu nữ gọn gàng trong chiếc áo tay ngắn màu ngà và chiếc váy ngắn, để lộ đôi chân thon thả. Cả hai dừng ở giữa quán, nhìn quanh như tìm chỗ ngồi, rồi đi về phía quầy bar nơi có treo ngược mấy hàng ly trong suốt khô khốc và những chiếc ghế cao đứng im lìm như thể được đặt ở đó chỉ để trang trí. Tôi không thể rời mắt khỏi đôi chân của thiếu nữ, đôi chân thon mảnh mà đầy đặn, đang thả xuôi dưới ghế. Bao giờ tôi cũng cho rằng, cái mà phụ nữ được tạo hóa ban cho hào phóng nhất, không phải là khuôn mặt, mắt hay mũi, mà là đôi chân. Và một phụ nữ đẹp trước hết phải là người có đôi chân đẹp. ở cô gái này, đôi chân ấy như có hồn, chúng cứ thong thả đan vào nhau, rồi lại duỗi ra, nhè nhẹ, tất cả khoan thai phối hợp có vần có điệu. Cái bắp chân mịn màng thon dài xuống gót, thắt lại nhè nhẹ ở đó như thắt một cái eo, như cấu tạo của một hợp âm, rằng trưởng thì phải như thế, thứ thì phải như thế. Người phục vụ nói:
- Anh đã chọn được chỗ ngồi tốt.
- Tôi cũng nghĩ như thế. Tôi đáp, cái gót chân hồng hồng xinh xinh ấy đang chuồi ra khỏi chiếc giầy chật chội.
- Ngồi ở đây anh có thể nhìn ra khắp trời. Anh ta tiếp tục.
- Để làm gì ?
- Để ngắm nguyệt thực. Anh ta nói, tay thắp ngọn nến trên bàn. Sẽ có nguyệt thực toàn phần ngay chính đêm nay, đêm trung thu. Vậy có lạ không chớ.
Khi người phục vụ đi vào trong thì tôi ngồi nghĩ xem nguyệt thực nghĩa là gì. Là mặt trời, trái đất và mặt trăng cùng vướng phải một sợi chỉ giăng ngang giữa thiên hà, nhưng cái nào trước, cái nào sau, cái nào ở giữa thì lẫn lộn rối rắm cả. Ngày xưa quả thật tôi có đọc một vài cuốn khoa học thường thức về những hiện tượng như vậy, nhưng không hiểu gì mấy ngoài cảm giác buồn bã nhẹ nhàng về thân phận nhỏ nhoi của mình ở trên cõi đời này, trong không gian vô tận này, trong thời gian bất tận này. Lúc ấy tôi nghĩ rằng, thôi, không quan tâm đến những sự kiện siêu nhiên ấy nữa vì bao giờ chúng cũng khiến cho tôi có cảm giác vô nghĩa bởi sự bất lực của mình. Mà vô nghĩa là một cảm giác tệ hại. Thế nhưng tôi đã lo xa, về sau này những đề tài ấy đôi khi tôi đọc phải mà chẳng mảy may xúc động. Cảm xúc của tôi đã khác, khác như vậy đó, trơ ra.
- Lâu quá anh không ghé chơi. Người phục vụ quay lại. Gần một năm rồi, phải không. Tôi nhớ lúc ấy trời mưa. Anh ta đưa tay áo lướt qua mặt bàn một lượt, như đảm bảo tất cả đều đang sạch sẽ khiến ngọn nến rụt lại một màu xanh trong suốt như ngọc. Bây giờ trời cũng mưa. Hay thật.
- Có lẽ sẽ mưa suốt đêm.
- Không, nó sẽ tạnh ngay thôi. Anh ta nói, đặt tách lên bàn.
- Ai mà biết được. Tôi nói.
- Chắc chắn là sẽ tạnh. Anh ta quả quyết.
- Tôi chẳng thấy có đêm trung thu nào mà không mưa.
- Vâng.
Suốt hôm nay, không có ai đồng tình với tôi một cách nhẹ nhàng như vậy.
- Vậy thì, tối nay cũng sẽ mưa suốt đêm cho mà coi. Tôi nói.
- Không. Đêm nay có nguyệt thực. Anh ta nhắc lại. Nguyệt thực toàn phần. Làm sao mà trời mưa suốt được trong khi ai cũng muốn xem cái sự kiện này cả.
Tôi ngả người ra ghế. Nguyệt thực là cái quái gì mà phải bận tâm như vậy chứ. Sao mà nhạt nhẽo quá chừng, nhưng nếu không có ai đó trò chuyện thì tôi chắc chết đi được vì chán chường. Tôi nói:
- Anh ngồi chơi cho vui.
Anh ta như chỉ chờ có thế, kéo ghế ngồi. Tôi hỏi.
- Anh uống gì ?
- Không. Tôi chỉ ngồi một lát. Anh ta đáp.
- Một đêm trung thu buồn hiu như thế này thì người ta uống gì ? Tôi lại hỏi.
- Trà nóng.
Tôi gọi người phục vụ kia.
- Cho một tách trà nóng.
Anh ta nhổm dậy.
- Để tôi tự làm lấy cũng được.
- Tại sao ?
- Tôi không quen.
- Có gì mà không quen. Tôi mời anh mà. Anh chỉ cần gọi, "Cho một tách trà nóng", là xong.
- Không đơn giản. Anh ta lầm bầm.
- Tôi kể anh nghe chuyện này, hồi sáng, có một tay người nước ngoài làm việc chung với tôi thu xếp đồ đạc để về nước, y gói ghém tất cả vào một thùng giấy thật to và bảo tôi, "Ê, kiếm cho tao băng keo dán". Tôi đi kiếm băng keo dán. Sau đó y ngồi trên ghế, tay hút thuốc, hai chân kẹp thùng giấy, còn tôi cúi xuống dán hết mọi ngóc ngách cái thùng ấy, mà nghĩ, vì sao ta phải làm cái việc vặt này mà nó không làm. Đây là cái thùng giấy của nó, nó phải tự lo chớ. Nhưng y lại bảo tiếp, "Làm ơn kiếm giúp sợi dây buộc để làm quai". Thế là tôi tự động đi vào kho tìm một sợi dây, mặc dù ấm ức lắm rồi. Khi buộc cái thùng cho y, tôi tự bảo, sao mày ngu thế, rõ ràng là vừa ngu vừa hèn. Nhưng đến khi tôi thắt cái quai cho y, thì tôi nghĩ, cái thùng giấy này nặng thật, nó mà nói mình khiêng xuống nhà thì phải làm sao đây. Chính lúc ấy, y nói, "Cái thùng giấy này không nặng lắm đâu. Lát nữa đem giúp xuống nhà nhé". Lúc ấy, đột nhiên chẳng nghĩ ngợi gì cả, tôi nói, giọng rất to, "Không, đó là việc của mày, không phải việc của tao". Y sững người, dụi tắt điếu thuốc, và tự tay xốc cái thùng giấy ấy lên, sượng ngắt mà nói, "Thôi, tôi đi đây. Cám ơn nhiều". Tôi thấy vậy đó. Giống như anh gọi một tách trà. Bất cứ chuyện gì mà anh không tự tin được, anh hãy xử sự như thể anh đang gọi một tách trà. "Này, cho một tách trà".
- Nhưng ngay cả một tách trà tôi cũng không gọi được.
- Khi gọi, anh không nên suy nghĩ nhiều.
Chúng tôi cứ ngồi như thế một lát nữa mà không nói chuyện gì. Nói chung, tôi cần có người ngồi bên cạnh nhưng lại muốn không phải nói chuyện. Bên ngoài, nước theo mái rơm từng dòng nhỏ xuống. Những ghế ngồi rải rác trên lối đi trải sỏi đọng nước lấp lánh. ở bàn trong, đôi thanh niên ấy vẫn ngồi im lặng. Cô gái tay khoanh trước ngực, cái lưng mảnh dẻ có buộc một chiếc áo khoác mỏng ở cái eo nhỏ. Đôi chân cô vẫn duỗi ra như thế, thanh thoát, sang trọng. Quả là một đôi chân có hồn. Một đôi chân mà người ta càng ngắm càng yêu.
- Đêm nay quán mở cửa đến mấy giờ.
- Có lẽ suốt đêm.
- Thật à. Nếu thế thì tôi sẽ ngồi suốt đêm.
- Vâng. Nguyệt thực sẽ diễn ra vào lúc không giờ ba phút sáng.
- Tôi ở lại vì chuyện khác. Tôi nói. Tôi chỉ muốn ngắm đôi chân kia. Một đôi chân quá đẹp, phải không.
Người phục vụ đưa mắt thờ ơ nhìn.
- Không.
- Tại sao. Đó là một trong những điểm hấp dẫn nhất ở phụ nữ.
- Nhưng tôi không thích những ngón chân để trần. Anh ta nói.
Tôi ngắm cái bàn chân đang rất là thảnh thơi ấy.
- Những ngón chân ấy cũng đẹp.
- Không. Không có những ngón chân đẹp. Ngón chân là một món thừa thải, không nên để trần trụi ra ngoài.
- Vì sao ?
- Tôi không biết vì sao. Nhưng những ngón chân lúc nào cũng khiến tôi có cảm giác về sự trần tục. Chúng trông có vẻ xác thịt.
- Trời đất. Tôi nói. Sao anh chỉ thấy có vậy.
- Anh cũng có thể mua đôi chân ấy đấy, nếu anh muốn. Người phục vụ nói. Nhưng mà thôi, tôi đi lấy thêm trà đây. Anh có cần uống thêm gì không.
- Không, cám ơn.
Dưới ánh đèn vàng phủ lên tường vàng, bàn chân ấy trông nhẹ như một chiếc khăn mỏng ai đó xếp lại rồi bỏ quên trên sàn. Những ngón chân tựa vào lòng giầy như đang nghỉ ngơi, đơn giản như thể khi ta cần hít thở khí trời, ta mở cửa sổ ra và đứng tựa đấy một lát, thư giãn. Nhưng tôi hiểu anh ta, tất cả chỉ đơn thuần là cảm giác mà thôi, như ngày xưa học nhạc, tôi bao giờ cũng có một liên tưởng kỳ lạ rằng nốt ré phải có màu nâu, và nốt la có màu trắng. Đôi khi như vậy đó, không thực, nhưng cũng không nhất thiết phải giải thích gì.
Người phục vụ đi ngang đôi thanh niên ấy, dừng lại một lát, cái cằm dài tận tụy gập xuống kẹp chặt chiếc nơ nhỏ. Thiếu nữ vẫn ngồi như thế, tay tựa trên quầy. Cánh tay ấy cũng đẹp, mái tóc thả sau cũng đẹp, đôi vai áo và cái lưng cong nghiêng dịu dàng về trước cũng đẹp. Tôi yêu những dáng ngồi trầm tư như thế. Chúng trông vừa sang trọng vừa gần gũi. Một điều hiếm hoi. Người phục vụ trở lại với chiếc tách tỏa hơi nghi ngút trên tay.
- Có chuyện này không biết phiền anh không.
- Chuyện gì ?
Anh ta hạ giọng.
- Tôi đem đôi chân ấy về cho anh đấy.
- Tôi không hiểu.
- Anh ngạc nhiên à. Đôi khi cũng có những điều ta muốn, là được.
Tôi sốt ruột.
- Thôi, đừng dài dòng nữa.
- Họ muốn được ngồi cùng bàn với anh.
- Để làm gì ?
- Để ngắm nguyệt thực.
Trong tôi có một cảm giác lạ lùng đang đến.
- Vậy thì anh mời họ qua đây đi.
Thiếu nữ ấy có một cái gì đó quả thật đặc biệt, nàng như có một sức hút kì lạ ở dáng đi, ở cánh tay đong đưa, ở cái cổ cao, hay ở đâu đó nữa mà tôi không rõ. Tôi chỉ biết là tôi đứng đó, kéo chiếc ghế cho nàng, và người thanh niên kia lên tiếng, "Cảm ơn", giọng nhẹ nhàng lạ lùng, rồi hướng về phía nàng anh ta giới thiệu, "Đây là em gái tôi. Hôm nay nó rất muốn ngồi bên cửa sổ." Thiếu nữ nhìn tôi chào, đôi mắt rất đen, rất sâu. Tôi nói, "Không có chi. Tôi cũng không muốn xem nguyệt thực một mình." Và thế là tất cả cùng ngồi quanh cái bàn quay ra cửa sổ. Những song cửa lấp lánh một màu kì lạ trong ánh sáng nên đang tàn dần.
- Hình như trời đang tạnh. Người phục vụ nói.
Từ mái rơm bên ngoài, nước không còn chảy xuống thành dòng nữa mà đu đưa từng giọt ngắt quãng. Và trên cái nền khuya khoắt của đêm, nước thả từng giọt lên lối sỏi nghe tí tách nhè nhẹ, nghe như tiếng chim sẻ vào những trưa hè nhảy nhót đôi bàn chân gầy guộc trên mặt sân ximăng nóng bỏng trước sân nhà, gõ những cái mỏ mảnh dẻ như vỏ trấu lách tách tìm từng hạt cỏ, hạt thóc lẫn trong khe nứt. Người thanh niên nói.
- Nguyệt thực sẽ bắt đầu từ không giờ ba phút.
- Đúng như vậy. Người phục vụ vui vẻ. Tôi sẵn sàng tiếp quí vị trong suốt ba tiếng đồng hồ sau đó.
Tôi nhìn đồng hồ.
- Liệu có ai ngồi xem nổi suốt thời gian ấy không.
Người thanh niên quay sang thiếu nữ, ân cần.
- Chúng tôi sẽ xem suốt đêm.
Thiếu nữ im lặng, mắt đăm đăm nhìn ra ngoài. Người thanh niên nói tiếp, một kiểu nói chuyện lơ mơ lạ lùng.
- Em tôi muốn thấy trăng sẽ sáng trở lại.
- Điều đó là chắc chắn rồi. Tôi nói. Mọi người sẽ được thấy cảnh tượng ngoạn mục cuối cùng của thế kỷ này.
- Ngoạn mục à ? Không đâu, nguyệt thực là một điều không hay. Anh ta phản đối, giọng nghiêm nghị.
- Tại sao phải tin chuyện đó. Tôi nói.
Người phục vụ nhổm dậy.
- Có phải cái bóng đen ấy không, nó xuất hiện rồi kìa.
Trên cái nền khúc khuỷu đường nét của những mái nhà, mặt trăng xuất hiện cô độc một mình, tỏa ra một thứ ánh sáng phồn thịnh mà xa lạ, và bên cạnh đó là một khối đen như một đám mây đang trườn đến, chạm ở phần mép sáng nhất. Bóng đen ấy dần dần đi vào, rất chậm rãi, chiếm cái đĩa bạc sáng tươi ấy từng chút một. Người phục vụ nhẹ nhàng đứng dậy bước ra phía cửa lớn, chiếc khăn trắng nhàn nhạt vắt rất nề nếp trên tay. Anh ta ngước nhìn chăm chú ra ngoài, cái cằm dài hếch lên, bất động. Trên bàn, ngọn nến leo lét ánh xanh sắc sảo cuối cùng rồi lịm dần nhường chỗ cho một thứ ánh sáng đang chết dần khác, ánh sáng của trăng vằng vặc đang chết dần một nửa. Chính vào lúc ấy, khuôn mặt của người thanh niên ngồi bên cạnh tôi hóa ngây ra.
- Vậy là nó bắt đầu rồi. Anh ta thì thầm.
- ừ, nó bắt đầu rồi đó. Tôi nói.
- Nó lại bắt đầu ngay chính vào đêm trung thu. Anh ta nói, giọng đều đều. Anh biết không, trung thu là đêm mà chúng tôi có cảm giác bao nhiêu điều tồi tệ nhất trên đời này sẽ được gột bỏ. Thật đấy, bao nhiêu chuyện xấu xa nhất sẽ được gột bỏ.
Tôi nhìn người thanh niên, không hiểu anh ta nói gì. Tôi đang thư giãn, tôi đang muốn duỗi cả thân mình ra trong cái ghế êm ấm này bên cạnh một thiếu nữ xinh đẹp như nàng, và như thế là đủ. Tôi không thích nói nhiều, mà tôi cũng không thích phải nghe ai nói nhiều. Nói chung ai ai cũng có thân phận của mình, ai ai cũng có nỗi niềm riêng, và đã là nỗi niềm riêng thì chỉ thích hợp để cất giữ trong một ngõ ngách nào đó.
- Tôi chỉ thấy một điều là cái đêm trung thu này đang tàn. Tôi nói.
- Anh thấy nó đang tàn thật à ?
- ý tôi nói thế là hết một trung thu. Xong.
- Với tôi thì nó còn quan trọng hơn thế. Không đơn giản là xong một đêm. Anh ta nói. Một đêm như thế thật là đặc biệt.
- Tôi thì thấy chẳng có gì đặc biệt. Tôi nói. Nó cũng như mọi đêm khác thôi.
- Khác lắm chứ. Bởi vì khi mà nhìn lên trăng của một đêm như thế này thì không ai có thể tự cho rằng mình có thể trong sáng như nó được. Không ai có thể kiêu hãnh mà nói rằng mình không có tì vết gì. Lúc ấy, tất cả mọi người đều như nhau, đều được sinh ra như thể ghé ngang qua đây một cách tạm bợ. Và nếu cứ nhìn mãi như thế thì sẽ thấy trên đời này, không có ai mất mát gì, cũng không ai được thêm gì. Nhìn lên trời, sẽ thấy bình yên. Anh ta ngừng một chút rồi tiếp. Và chỉ thấy cần bình yên mà thôi.
Thiếu nữ vẫn ngồi im lặng, cái ngực xinh xắn tựa lên bàn, đôi mắt không hề chớp hướng lên phía trên lúc này chỉ còn là một lưỡi liềm mỏng, hai bàn tay nàng chắp lại, những ngón tay mảnh dẻ lắm.
- Tôi lại không thấy được những điều anh nói. Tôi nói.
- Có gì đâu, anh cứ nhìn lên đó, và đừng nghĩ gì cả thì anh sẽ hiểu.
- Có thể. Nhưng tôi phải về. Khuya rồi.
- Anh xem giờ làm gì. Người thanh niên nói, đưa tay lên. Từ lâu rồi không đeo đồng hồ nữa, và thấy đó đúng là một sự giải thoát.
- Hôm nay tôi cũng đã được thư giãn. Ngày mai tôi phải đi làm.
- Lý do ấy chính đáng nhất trong mọi lý do. Giọng anh ta có vẻ châm biếm.
- Lý do đó thống trị đời sống mọi người. Tôi đồng ý.
- Nhưng không phải của chúng tôi. Anh ta nói ngay.
Tôi rất không thích kiểu đôi co như thế này. Tôi đứng dậy, nhìn thiếu nữ một lần cuối. Nàng vẫn im lặng như từ lúc gặp. Tôi nói.
- Cảm ơn mọi người. Tôi về.
Người phục vụ mở cửa cho tôi, một làn không khí trong lành tràn đến đầy hơi nước. Anh ta đưa tôi ra cổng. Trên cao, bóng tối ấy đang nuốt phần còn lại của trăng. Tôi dừng lại ở đó một lát, hít đầy ngực một làn hơi, ngắm cái cảnh tượng mà suốt đêm bao người chờ đợi.
- Anh thấy thế nào ? Anh ta hỏi.
- Buồn ngủ.
- Không, tôi hỏi em gái ấy thế nào ?
- Xinh lắm.
- Tôi biết ngay mà. Anh vẫn thích đôi chân của cô ta à ?
- Chuyện ấy thì quan trọng gì.
- Quan trọng chứ. Bởi vì chúng tôi trả tiền để cô ta hằng đêm ngồi đó.
- Anh nói đùa.
- Không đùa đâu. Chỉ có điều thằng cha kia chỉ có vì vậy mà cứ ăn năn dằn vặt mãi. Y nói với anh nhiều lắm à ?
- ừ
- Y hơi điên điên rồi đó. Tôi thấy y càng ngày càng hơi điên điên.
- ừ. Chắc là y xúc động.
- Cũng may là y còn đứa em gái ngoan ngoãn.
- ừ.
- Anh thật sự thích cô ta chứ ?
- ừ. Tôi không thích những người nói nhiều. Tôi thích cái kiểu cô ta im lặng như vậy. Trông thật quyến rủ.
- Nàng hấp dẫn khách ở đây cũng nhờ thế.
Lặng im một lát, tôi nói mà lòng ngập đầy một nỗi thất vọng.
- Cô ta quả thật là giỏi.
- Có giỏi gì đâu. Người phục vụ ngạc nhiên. Y không hề nói gì với anh sao. Nàng đâu có nghe được mà cũng đâu có nói được. Nàng bị câm mà.
Tôi vịn tay vào cổng, cảm thấy thép đang rỉ ra ướt át, lầy nhầy. Trên cao, mặt trăng đang thoi thóp, nhúm ánh sáng lộng lẫy cuối cùng của nó đang bị bóng râm mạnh mẽ không gì cưỡng lại được ấy lắp hẳn. Tôi như thấy đó là đôi môi của nàng, đôi môi đang mím chặt nghiêm nghị, đôi môi ấy nhẹ và mịn cho dù chỉ được nhìn trong bóng tối. Tôi ngắm hình ảnh của trăng lúc ấy mà có cảm giác gần gũi với ánh sáng của nó hơn bao giờ hết, thấy như chính tôi đang vuốt ve cái bề mặt sáng đẹp kiêu kỳ xa cách ấy, vuốt ve bằng bóng râm của mình, bóng râm của trái đất nơi tôi đang đứng đây, bóng râm của mọi người. Một cảm giác gần gũi, thân thiết lạ lùng.
Người phục vụ đứng phía sau tôi, hỏi.
- Anh về được chứ ?
- Được.
- Cuối tuần ghé chơi nghe. Cuối tuần mới thú.
- Liệu có gì hay hơn nữa sao ?
- Tôi không chắc. Nhưng có lẽ người đẹp sẽ cười.
Tôi suy nghĩ một lát.
- ừ, tôi cũng muốn biết nụ cười của nàng như thế nào.
- Anh thấy chưa, phụ nữ hấp dẫn ở đôi môi chứ không phải đôi chân như anh nghĩ đâu. Người phục vụ mỉm cười. Và càng hấp dẫn hơn khi đó là một đôi môi đẹp nhưng lại không bao giờ nói được.

Chuyện vườn

Suốt một tuần liền trời nắng như hạn, nhựa đường bóng loáng lên, chực chảy tràn xuống những mép hè. Cây cối mềm oặt, lá rũ rượi như những bàn tay người xanh rớt. Vậy mà, giờ đang là mùa mưa. Trưa nào cũng vậy, đám xích lô tề tựu quanh gốc gòn, càng xe nghếch lên, đan chéo vào nhau thành mạng như tổ ong. Và chỉ cần kéo sụp chiếc nón xuống là giấc ngủ đến. Những giấc ngủ nhễ nhại mồ hôi, mệt nhoài, sâu thẳm. 
Khanh mở cửa sổ nhìn xuống đường, nói: 
- Đi về vườn với tao. May ra kiếm được chút gió. 
Thứ bảy, mọi người về sớm, vắng vẻ. Phòng hành chính cho người gọi, "Xuống lãnh tiền". Có tiền, và một chuyến chơi xa vào ngày mai, còn gì hay bằng. Tôi gật, nhưng vẫn ngồi nán lại trong căn phòng rộng thênh thang, như thói quen xưa. Nhà thờ bên kia đường đổ từng hồi chuông dài và nắng nhạt dần. Bây giờ đất mới tỏa nhiệt, làm thành một lớp đệm hơi nóng hầm hập trên bề mặt. Người đi về như bơi trong đó, nhễ nhại mồ hôi. Khanh khóa tủ, dặn: 
- Ngày mai nhớ dậy sớm. 
Tôi tắt đèn, quạt, về. Tối dường như có tiếng sấm ầm ì phía xa xa, nhưng không có mưa. Nằm yên có thể nghe được tiếng của cây lá, đất đai, của những bệ xi-măng đang nứt rạn. âm thanh ấy rất nhỏ nhưng rõ ràng, tiếng cựa mình khe khẽ, như tiếng quả khô bị tách đôi. Tiếng sấm ầm ì cứ kéo dài mãi, không dứt cho đến tận lúc tôi ngủ say. 
Mới năm giờ sáng, Khanh tới, cao lớn bảnh bao trong bộ quần áo mầu xanh biển, khác hẳn với mọi người. Khanh hất hàm về phía đôi trai gái ngồi trên xe chờ ở đầu hẻm. 
- Uyên, em tao. Kia là Tú, bạn nó. 
Cô gái gật đầu chào. Tóc được dịp nhảy bổ ra trước một đám tươi tắn. Khanh giàu sụ, thừa kế một khu vườn rộng cách thành phố độ tám chục cây số. Mỗi năm đến mùa trái, Khanh mới lên thăm vườn một lần. Ngày thường đã có người làm chăm sóc. Tôi ngồi sau Khanh, ngắm nghía nhà cửa hai bên đường vùn vụt lướt qua, những ruộng đồng vườn tược, những lò gạch hoang vắng, những cọc tiêu hom hem rũ rượi. Thỉnh thoảng lại có những ngôi nhà thờ lừng lững tiến đến, hình thù đồ sộ và kỳ quặc. Tôi cố tìm kiếm những năm xây dựng được chạm khắc đâu đó trên những tường đá lát xám bạc, và định lại tuổi tác già nua của chúng. 
Được nửa đường, Khanh tấp xe vào nghỉ ở một cánh rừng cao-su bạt ngàn. Đôi nam nữ dắt nhau quanh quẩn bên những chiếc gáo dừa đựng một thứ mủ sền sệt, trắng đục như sữa. Tôi ngắm họ, không hình dung ra được hình ảnh của một đôi tình nhân. Dường như có chút gì đó khập khiễng. Tú thấp người và lực lưỡng, khuôn mặt gân guốc nét nào ra nét ấy, chỉ trừ đôi mắt quá nhỏ, lúc nào cũng díp lại như đang mơ ngủ. Tú giữ tay Uyên quanh mình, đi không ngoái lại, với dáng vẻ tự tin của một kẻ sở hữu. Tôi nhìn Khanh, lo ngại: 
- Em gái anh dễ thương quá. 
Khanh nói: 
- Điều đó có quan trọng gì? 
Tú ôm lấy Uyên, hai cánh tay gân guốc như hai gọng kềm. Uyên cúi gập mình, đám tóc xanh mượt lại nhảy bổ về phía trước. Tôi nhặt một chiếc lá khộ Chiếc lá, từ lúc rụng xuống như chỉ đợi mãi dịp đó, rã ra như bụi. Lá làm thành đệm dầy, tôi muốn ngã mình xuống để nghe tiếng vỡ vụn của chúng, nhưng Khanh khoát tay: "Đi". Tôi gọi Uyên. Cô đi ngang qua tôi, mắt tròn xoe: 
- Sao anh biết tên em? 
Giọng cô nghe trong trẻo, vô lo, Tú phủi vội lá khô bám đầy vai, chạy theo. Lúc này nắng đã phủ đầy các lối. Những hoa nắng trên mặt đường chạy loang loáng về sau khiến tôi mỏi mắt. Uyên ngồi chúi về trước, ghì chặt người yêu. Cả hai phóng xe như baỵ Tôi chặc lưỡi. Khanh nói. 
- Yêu là điên. 
Rồi cho xe vọt lên quát. 
- Muốn chết hả? 
Uyên cười: 
- Anh Hai lão quá rồi. 
Uyên có hàm răng đẹp, và đôi mắt lá răm lúc nào cũng như đang reo cười. Dáng Uyên cao cao, hơi gầy, y hệt Trân. Tự nhiên tôi nhớ Trân, nhớ da diết, và chợt giật mình, rằng, tôi chưa bao giờ được chở Trân đi như vậy. Chưa bao giờ Trân tỏ ra tình tứ như Uyên. Vậy mà chúng tôi đã từng yêu nhau. Tôi chợt phát hiện ra một cái khoảng cách rất nhỏ, mơ hồ mà chúng tôi tưởng đã quên được rồi. Tôi thèm được như đôi lứa này. Chúng tôi yêu nhau nhưng đi lại lén lút, với một cuộc tình bị trói buộc chằng chịt bởi dây nhợ của dằn vặt và vô vọng. Mối tình tay ba ngu muội đó chỉ khiến hai đứa ngày càng mỏi mòn và thêm ngờ vực về tình cảm của mình. Nhưng dù sao cũng nhờ Trân mà tôi không còn là một đứa ngờ nghệch nữa. Chỉ tội cho cô, ra đi trắng taỵ Phụ nữ ẩn giấu trong mình một sức mạnh tiềm tàng, đó là nữ tính, và mọi hệ lụy cũng từ đó mà ra. Họ buộc đàn ông phải theo đuổi, thở than, nhưng rốt cuộc chính họ chẳng giữ lại được gì cả. 
Vườn nối tiếp vườn, xanh um. Hai chiếc xe chạy chồm chồm như ngựa qua những gò, những ụ mấp mộ Phải chú tâm lắm mới tìm thấy những rào ngăn cách mỏng mảnh. Đến vườn của mình, Khanh dựng xe dưới một cây thâm thấp rậm rịt lá, và gọi: 
- Bác Bảy. 
Từ trên chiếc thang cao ngất dựng trong vườn một ông già lực lưỡng, tóc đinh bạc trắng, leo xuống. Hai anh em Khanh cười cười, chào. Ông già nhéo tai Uyên. 
- Con nhỏ này giờ xinh ghệ - Rồi quay qua chúng tôi, ông cảnh giác. - Tụi bây coi chừng tiêu vì nó. 
Tôi nhìn Uyên. Cô cười tươi như hoa, nói: 
- Anh cứ việc ăn trái tha hồ, nhưng coi chừng bị lạc. 
Tôi nói: 
- Anh đã lạc rồi. 
Uyên đỏ mặt, thần người ra một lát, rồi chạy đến bên Tú. Bác Bảy nói: 
- Để tao đi kiếm bia. 
Khanh ngồi xuống, phạch áo, lôi từ trong túi xách ra cặp vịt quay béo tròn. Tôi thấy đói nhưng Khanh nói: 
- Đi thăm vườn đi. Trưa quay lại, nhậu. 
Tôi kiếm một cành tre đi vào vườn, e ngại không biết ở đây liệu có rắn không. Chôm chôm từng chùm đỏ au kéo trĩu cành xuống. Những thanh tre đỡ cũng oằn lại như cánh cung. Trên đầu mây chợt kéo đến, nặng nề. Tôi nghĩ: "Hôm nay xui rồi". Bao nhiêu ngày nắng chói chang chỉ để chực mưa vào đúng ngày này. Rồi tôi tự cười mình, nhớ ngày xưa đi học đã từng phải thi lại nhóm học phần về khí hậu, đã từng suốt hè ngập trong đống sách để tìm hiểu xem "hạn bà chằn" là cái gì. Có lẽ hạn vừa mới dứt. Tôi thích miền nam với cái tính cách thẳng thừng, rạch ròi, đâu ra đó của nó. Hết nắng là mưa, không úp mở gì cả. Và người cũng vậy, yêu ghét rõ ràng. Tôi thấy tội nghiệp cho mình. 
Tôi nói với Uyên: 
- Em chờ. Anh chở bác Bảy đi mua bia. 
Uyên "dạ", dáng dấp bẽn lẽn, trông dễ thương không tưởng tượng nổi. Tôi bóc chôm chôm đưa cho cộ Uyên nói: 
- Người ta gọi đây là chôm nếp. 
- Vì sao? 
- Em không biết, - Uyên cười, và chỉ. - Còn kia là chôm nhãn, xanh mà giòn, ngọt. 
Tôi nhìn cô, lạ lẫm. Thường các thiếu nữ có những nét duyên dáng thầm kín mà ngay chính họ cũng không hay biết, và chính điều đó dễ làm xiêu lòng người. Như Trân, chợ Tết hai năm trước, thuở mới gặp nhau, đã dẫn tôi đi vòng vèo qua những lối hoa, chỉ cho tôi xem và gọi tên chúng bằng cái giọng trong trẻo, nũng nịu của mình. Và trong lúc lang thang đó, tôi như đã tìm được một chốn riêng tư. 
Uyên dẫn tôi đi sâu vào trong rừng, nơi có những chùm chôm chôm ra hoa đỏ rực, chói chang như lửa. Dưới chân lá mục ẩm ướt. Tôi thấy tim mình đập mạnh quá. Uyên ngừng lại, ngơ ngác. Tôi nói: 
- Có kiến kìa. 
Tôi đặt tay lên vai cô, người chùng xuống. Trong tay tôi là một con kiến đen bóng lường, dài như hạt thóc. Những ngón tay tôi run rẩy. Uyên nói: 
- Cho em. 
Tôi nhìn xung quanh. Gió không vào tới được nơi đây. Dưới những vòm lá, sự im lặng cũng có âm thanh của riêng nó, không thành tiếng nhưng dầy đặc, bưng bít lấy tai. Nắng như ngạt thở, nhỏ từng giọt, từng giọt dài xuống, ướt át. 
- Đó là con bò nhọt, - Uyên nói. 
Tôi giữ tay cô đang trong tay mình. Con bò nhọt trườn nhè nhẹ qua chiếc nhẫn nhựa mầu huyết dụ. Uyên lạnh và mềm nhũn. Tôi quàng tay sau lưng cộ Kéo lại gần... 
Bác Bảy rũ rũ chiếc chiếu rách bươm rồi tung ra trên liếp tre mỏng. Khanh hỏi: 
- Ăn no chưa? 
Tôi đáp: "Rồi" và uống một ngụm bia, người nóng bừng. Khanh ngồi lặng lẽ rồi uống hết ly này đến ly khác, tôi hỏi: 
- Sao anh không vào vườn chơi? 
- Ở đó có gì? 
Tôi ngập ngừng: 
- Cũng chẳng có gì. Trái, vậy thôi. 
Uyên nói: 
- Anh Hai lạ quá. 
Khanh lấy vợ sớm. Phượng, vợ Khanh bằng tuổi tôi, là một phụ nữ rất đẹp. Phượng là người có học nhưng phù phiếm, là hỗn hợp của những thứ nửa vời, trái nghịch. Cô yêu chồng nhưng vẫn thích tự do, và đã gây nhiều tai tiếng. Khanh biết nhưng không nói gì, chỉ tỏ ra nhạt nhẽo. Phượng không chịu nổi thái độ đó và cô đã bỏ đi. Người ta khi đã có một cái gì đó cho riêng mình, bất cứ gì, thì phải biết cách giữ gìn lấy. Vì một khi đã đánh mất rồi thì không còn gì để nói nữa. Vô nghĩa hoàn toàn. Khanh từ đó hóa bê thạ Khi uống, Khanh thường khóc, rồi hát. Tiếng hát cứ như tiếng rên, ư ư? trong cổ họng, không thoát được, và cứ kể lể mãi một câu chuyện không đầu không đuôi, cùng quẫn. 
Lúc này, trông Khanh có vẻ mỏi mệt lắm rồi. Khanh ngồi, đầu gục xuống, tiếng rên nghe lào phào như hơi gió. Uyên buồn bã bỏ ra ngoài. Tú loay hoay một lúc rồi cũng đi theo. Gió thổi mơn man trên những cành lá. Khanh nằm dài trên những tấm liếp, ngủ thiếp đi. Tôi đi tìm Uyên, muốn tìm lại cảm giác ban nãy, nhưng không thấy cô đâu cả. 
Bác Bảy nhét chôm chôm vào cần xe, làm thành từng đống cao ắp, chắc nịch, hỏi: 
- Đứa nào mua sầu riêng, để tao lựa. 
ông dẫn tôi đi qua vườn bên. Một chiếc xe con sang trọng đậu ở rìa vườn, lốm đốm những sình đất đỏ quạch. Giữa vườn là chiếc bàn gỗ dài, cũ kỹ, vương vãi những múi vỏ dầy lởm chởm gai. Mọi người ngồi quanh bàn, chậm rãi ăn, nhấm nháp từng chút một mùi vị của trái. Bác Bảy gõ cán dao vào đống trái đang nằm lăn lóc như một lũ nhím con, đầu nghiêng nghiêng nghe ngóng. 
- Trái này ngon đây - Ông nói, và lăn một quả sầu riêng vào chiếc giỏ đang há miệng. - Mùa này có cả đoàn xe lên đây. Ăn xong về. Năm sau quay trở lại. 
- Hay quá! - Tôi nói. 
- Ừ, mà bất kỳ ai, hễ đã nghiền, đã biết thưởng thức một cái gì, cũng đáng được kể như có tình vậy. 
Tôi giật mình. Xưa nay chẳng có gì có thể khiến tôi thích lâu cả. Những dự định của tôi cũng như bọt bèo, tan nát, trôi dạt bất thường. Những cuộc gặp gỡ đều như qua đường, thờ ơ, nhạt nhẽo. Tôi sống không có tình chăng? Tôi chợt thấy mình dẫn dắt đời sống quá dễ dàng, chẳng hề bận tâm, ưu tư gì hơn những cuộc vui lẻ tẻ qua ngày, như những mảnh vá đủ mầu sặc sỡ. Khanh gượng dậy ra giếng, vục đầu vào thau nước, người như chảy sệ ra vì bia. Tôi nói với Uyên: 
- Anh tìm em mãi. 
Uyên nói. 
- Để làm gì? Em sợ lắm. 
Uyên cúi gằm, xách giỏ trái ra xe. Tú buộc chằng dây nhợ xung quanh, với vẻ cần mẫn thật thà của kẻ đang cần lấy điểm. Tôi cũng loay hoay với giỏ xách của mình. Chiều, lúc cả bọn vừa mới lên xe thì trời mưa. Mưa như trút nước. Mưa như thác. Chẳng mấy chốc những lối dẫn vào vườn hóa thành dòng sông con đỏ quạch. Khanh nói: 
- Phải về thôi. Trễ rồi. 
Cả bọn lội bì bõm ra đường cái. Tôi và Uyên đi sau. Uyên nhìn tôi, mắt ươn ướt. Tôi không nói gì, len lén tìm tay cô, lòng dậy lên một nỗi ăn năn. 
Tôi không biết mình đã hóa thành kẻ khác từ lúc nào. Những chuyến làm ăn, những lần gặp gỡ, tụ tập cùng các bậc đàn anh và dần dần gặm hết sự e dè nào đó trong tôi. Và như các bậc đàn anh của mình, giờ tôi cũng hóa lạnh lẽo. Chẳng còn gì tồn tại trong nghĩ suy ngoài việc kiếm tiền, càng nhiều càng tốt, và sự khát khao được thấy mình mạnh nhất, thành đạt nhất. Mưa rơi không ngớt, tay Uyên run rẩy trong tay tôi. Thật may mắn khi người ta còn biết sợ. Người ta luôn cần phải được kiềm chế bởi một điều gì đó. Tôi giữ Uyên đi sát bên mình. Môi Uyên nhợt nhạt. Phía trước, hai gã đàn ông đang lầm lũi đẩy xe đi, trông thảm não. Và mưa thì cứ dầy đặc... 
Trời sập tối, nhưng đường trơn, không ai dám chạy nhanh. Khanh chờ hai đứa em vượt lên trước mới quay lại nói: 
- Vui không? 
- Cũng được. Còn anh? 
Khanh không đáp. Tôi chợt nhận ra cô độc cũng khủng khiếp lắm. Người ta cũng có thể chết dần chết mòn vì nó. Tôi nghĩ đến Khanh, cảm thấy mình có lẽ không bao giờ có thể chịu được sự đơn độc. Nếu không có chuyến đi vườn này, hẳn ngày sẽ buồn lắm, rất buồn. Người ta không chỉ cần sống mà còn cần phải sống vui nữa. Tôi an ủi Khanh. 
- Anh phải biết quên. 
Ngang rừng cao-sụ Khanh dừng xe lại. 
- Mày nói phải. Biết quên để dễ sống. - Khanh nói. - Nhưng có những điều tao không thể quên được. 
Tôi ngạc nhiên. Khanh nhìn tôi, mắt lóe lên ánh kỳ dị. Tôi lờ mờ hiểu ra một điều gì đó nghiêm trọng. 
- Điều gì? Sự phản bội ư? 
- Không. - Khanh lắc đầu, và nói, giọng nặng nề. - Với tao sao cũng được, chỉ trừ thái độ coi thường con người. 
- Nhưng tôi nào có lỗi gì? 
- Mày tưởng tao không biết chuyện gì trong vườn sao? 
Tôi thấy ngột ngạt. Giày ướt sũng nước, lạnh buốt. Tôi nói: 
- Tôi quý Uyên. 
Khanh lặng lẽo. 
- Mày chỉ muốn có một mày vui. 
- Anh hẹp hòi quá. - Tôi nói. 
Khanh chép miệng: 
- Tao biết. Nhưng tao chịu, không thể nhìn mặt mày được nữa. Mày tự tìm cách về lấy đi. 
Tôi tức giận, gào lên: 
- Sá gì một quãng đường. 
Nhưng Khanh không kịp nghe, phóng xe đi. Tôi đứng dưới mưa, tay buông giỏ trái lăn lóc. Tôi đứng như vậy hồi lâu, chết lặng người. Nước mưa chảy vào miệng chát. Có lẽ, chưa bao giờ tôi nghĩ ngợi nhiều như vậy. Chưa bao giờ tôi nhận thức đến tận cùng bản chất của mình như vậy. Tôi kéo lê túi xách trên đường, lội ngược dòng nước đang chảy như thác từ trên dốc cao xuống. Trời đã tối hẳn. Đèn xe loang loáng vút qua, tôi vẫy nhưng không một chiếc xe nào dừng lại. Không ai muốn cho tôi đi nhờ. Và rồi, như tự bao lâu nay, tôi sẽ phải đi tiếp một mình. Nhưng lần này, quãng đường về quả thật xa, rất xa...