Tôi vốn ít quan tâm tới truyện ngắn, nhưng nghe nói nhiều về "Cánh đồng bất tận", nên tò mò đọc thử, không ngờ nghiền. Lời văn hay đến sững sờ, mọi cảnh vật miền tây như hiện ra mồn một trước mắt ngay với cả người chưa đến miền tây, chưa thấy cảnh vịt chạy đồng.
"... Mặt trời le lói ánh sáng trở lại khi trên đồng chỉ còn hai thân thể nhàu nhừ. Ai đó vãi từng chùm chim én lên cao, chúng cố chao liệng để khỏi phải rơi như lá. Người cha cởi cái áo trên người để đắp lên đứa con gái. Ông ta bò quanh nó, tìm bất cứ cái gì để có thể che cơ thể nó dưới mặt trời. Dường như đứa con gái đang chết, chỉ đôi mắt là rưng rức chớp mở không thôi. Câu đầu tiên nó hỏi:
- Không biết con bị có con không, hả cha?
Cảm giác một cái gì, nhỏ xíu nhưng lanh lợi như con loăng quăng đang vui sướng, ngụp lặn trong nó. Đứa con gái thoáng nghĩ, có thể mình sẽ sinh con. Đứa bé đó, nhất định nó sẽ đặt tên là Thương, là Nhớ hay Dịu, Xuyến, Hường... Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh và vui vẻ sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn".
Tôi vốn ít quan tâm tới truyện ngắn, nhưng nghe nói nhiều về Cánh đồng bất tận, nên tò mò đọc thử, không ngờ nghiền. Lời văn hay đến sững sờ, mọi cảnh vật miền tây như hiện ra mồn một trước mắt ngay với cả người chưa đến miền tây, chưa thấy cảnh vịt chạy đồng. Nói chi cái thằng tôi vốn dân miền tây gốc, sống với ruộng đồng từ khi lẫm chẫm biết đi, suốt ngày lặn ngụp thả câu, chài lưới, phèn đóng vàng móng chân, cái sơ mi nào cũng hai màu: nửa trên cháo lòng, nửa dưới vàng khè vằn vện như ngọn lửa cháy.
Lời văn, cốt truyện thật đến mức không có gì để bàn. Điều tôi muốn nói là tính nhân văn trong truyện. Hiểu như thế nào là nhân văn, là có hậu, đó là phụ thuộc sự cảm nhận của mỗi người.
Nếu đứng ở góc độ kết thúc thì đúng là thiếu cái hậu, truyện dừng lại ở cô gái bi thảm quá, mà cái nhìn cam chịu của người cha khi bị kềm giữ cũng quá bi thảm.
Nhưng nếu đứng trong suy nghĩ, hành động thì mới thấy cái nhân văn, cái hậu.
"Người cha cởi cái áo trên người để đắp lên đứa con gái. Ông ta bò quanh nó, tìm bất cứ cái gì để có thể che cơ thể nó dưới mặt trời ", một hành động mà trước đây ông chưa hề làm đó là chăm sóc, quan tâm đến con. Một thay đổi bất ngờ trong người cha. Trong suốt câu chuyện, ta cứ nghĩ người cha đã chai sạn, vô cảm. Nhưng không, ông chỉ cố làm ra vẻ như thế, trong sâu tận thâm tâm, một tình thương, một con người thật vẫn sống trong ông. Ông nghĩ rằng, khi làm như thế có nghĩa là ông thoát khỏi quy luật cuộc sống, bàng quangvới xã hội, nhưng không, khi đứa con gái bị hiếp, ông hiểu, mọi thứ mà ông muốn dứt bỏ vẫn bám theo ông, những thứ ông trốn chạy nó vẫn tồn tại, và ông đã vùng dậy, sống thật với tâm trạng người cha, phản ứng, nhưng sức lực không cho phép. Nhân văn là ở đó, con người ta có thể đóng kịch, có thể giả dối, nhưng khi đối mặt với sự thật, thì con người thật sẽ bóc trần ra.
Một ý nghĩa nhân văn khác là những suy nghĩ theo triết lý đạo Phật của cô gái. "Đứa con gái thoáng nghĩ, có thể mình sẽ sinh con. Đứa bé đó, nhất định nó sẽ đặt tên là Thương, là Nhớ hay Dịu, Xuyến, Hường... Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh và vui vẻ sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn".
Vâng, nhân văn quá đi chứ, cuộc sống cần phải tha thứ, tha thứ làm cho ta cảm thấy nhẹ nhõm, giúp ta gột bỏ mọi ưu phiền, suy nghĩ tìm cách trả thù nhau. Một cô gái sống tách biệt với xã hội, xung quanh là "cánh đồng bất tận", hàng ngày đối mặt và cam chịu với bản tánh khô khan thô bạo của người cha, vậy mà lại có một suy nghĩ hết sức Phật giáo, vậy thì nhân văn quá rồi còn gì.
Chưa kể kết thúc câu truyện là kết thúc mở, tưởng chừng như mọi việc dừng lại đột ngột sau khi cô gái bị hiếp và ngay sau sự dừng lại của người viết. Nhưng không trong những dòng ngắn ngủi cuối câu chuyện lại mở ra rất nhiều tính nhân văn: đó là con người thật của người cha xuất hiện, đó là suy nghĩ Phật giáo của cô gái, và quan trọng hơn là sự hy vọng vào một ngày mới tốt đẹp hơn - cuộc sống rất cần những hy vọng lạc quan để có một cái đích mà hướng tới - "Mặt trời le lói ánh sáng trở lại khi trên đồng chỉ còn hai thân thể nhàu nhừ", vâng dù chỉ là "le lói sáng", nhưng đó là những le lói hy vọng của một con người khổ cực sau một quãng đời đầy cam chịu, mà cực điểm là cam chịu bị hiếp, chính cái cam chịu kế cùng này làm trỗi dậy hy vọng sống tốt đẹp. Và câu truyện lại mở ra với hy vọng xuất hiện một sinh linh mới - quá nhân văn - trong tận cùng sự khổ cực của cuộc sống, thì mầm sống vẫn luôn tồn tại và sẵn sàng nhú lên trong bất cứ hoàn cảnh nào. "Cảm giác một cái gì, nhỏ xíu nhưng lanh lợi như con loăng quăng đang vui sướng, ngụp lặn trong nó. Đứa con gái thoáng nghĩ, có thể mình sẽ sinh con". Vâng, nhân văn chính là ở chỗ, dù trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nghiệt ngã nào thì cuộc sống vẫn vẫn tồn tại và phát triển - cuộc sống cần sự lạc quan tin tưởng và sinh sôi.
- Không biết con bị có con không, hả cha?
Cảm giác một cái gì, nhỏ xíu nhưng lanh lợi như con loăng quăng đang vui sướng, ngụp lặn trong nó. Đứa con gái thoáng nghĩ, có thể mình sẽ sinh con. Đứa bé đó, nhất định nó sẽ đặt tên là Thương, là Nhớ hay Dịu, Xuyến, Hường... Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh và vui vẻ sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn".
Tôi vốn ít quan tâm tới truyện ngắn, nhưng nghe nói nhiều về Cánh đồng bất tận, nên tò mò đọc thử, không ngờ nghiền. Lời văn hay đến sững sờ, mọi cảnh vật miền tây như hiện ra mồn một trước mắt ngay với cả người chưa đến miền tây, chưa thấy cảnh vịt chạy đồng. Nói chi cái thằng tôi vốn dân miền tây gốc, sống với ruộng đồng từ khi lẫm chẫm biết đi, suốt ngày lặn ngụp thả câu, chài lưới, phèn đóng vàng móng chân, cái sơ mi nào cũng hai màu: nửa trên cháo lòng, nửa dưới vàng khè vằn vện như ngọn lửa cháy.
Lời văn, cốt truyện thật đến mức không có gì để bàn. Điều tôi muốn nói là tính nhân văn trong truyện. Hiểu như thế nào là nhân văn, là có hậu, đó là phụ thuộc sự cảm nhận của mỗi người.
Nếu đứng ở góc độ kết thúc thì đúng là thiếu cái hậu, truyện dừng lại ở cô gái bi thảm quá, mà cái nhìn cam chịu của người cha khi bị kềm giữ cũng quá bi thảm.
Nhưng nếu đứng trong suy nghĩ, hành động thì mới thấy cái nhân văn, cái hậu.
"Người cha cởi cái áo trên người để đắp lên đứa con gái. Ông ta bò quanh nó, tìm bất cứ cái gì để có thể che cơ thể nó dưới mặt trời ", một hành động mà trước đây ông chưa hề làm đó là chăm sóc, quan tâm đến con. Một thay đổi bất ngờ trong người cha. Trong suốt câu chuyện, ta cứ nghĩ người cha đã chai sạn, vô cảm. Nhưng không, ông chỉ cố làm ra vẻ như thế, trong sâu tận thâm tâm, một tình thương, một con người thật vẫn sống trong ông. Ông nghĩ rằng, khi làm như thế có nghĩa là ông thoát khỏi quy luật cuộc sống, bàng quangvới xã hội, nhưng không, khi đứa con gái bị hiếp, ông hiểu, mọi thứ mà ông muốn dứt bỏ vẫn bám theo ông, những thứ ông trốn chạy nó vẫn tồn tại, và ông đã vùng dậy, sống thật với tâm trạng người cha, phản ứng, nhưng sức lực không cho phép. Nhân văn là ở đó, con người ta có thể đóng kịch, có thể giả dối, nhưng khi đối mặt với sự thật, thì con người thật sẽ bóc trần ra.
Một ý nghĩa nhân văn khác là những suy nghĩ theo triết lý đạo Phật của cô gái. "Đứa con gái thoáng nghĩ, có thể mình sẽ sinh con. Đứa bé đó, nhất định nó sẽ đặt tên là Thương, là Nhớ hay Dịu, Xuyến, Hường... Đứa bé không cha nhưng chắc chắn được đến trường, sẽ tươi tỉnh và vui vẻ sống đến hết đời, vì được mẹ dạy, là trẻ con, đôi khi nên tha thứ lỗi lầm của người lớn".
Vâng, nhân văn quá đi chứ, cuộc sống cần phải tha thứ, tha thứ làm cho ta cảm thấy nhẹ nhõm, giúp ta gột bỏ mọi ưu phiền, suy nghĩ tìm cách trả thù nhau. Một cô gái sống tách biệt với xã hội, xung quanh là "cánh đồng bất tận", hàng ngày đối mặt và cam chịu với bản tánh khô khan thô bạo của người cha, vậy mà lại có một suy nghĩ hết sức Phật giáo, vậy thì nhân văn quá rồi còn gì.
Chưa kể kết thúc câu truyện là kết thúc mở, tưởng chừng như mọi việc dừng lại đột ngột sau khi cô gái bị hiếp và ngay sau sự dừng lại của người viết. Nhưng không trong những dòng ngắn ngủi cuối câu chuyện lại mở ra rất nhiều tính nhân văn: đó là con người thật của người cha xuất hiện, đó là suy nghĩ Phật giáo của cô gái, và quan trọng hơn là sự hy vọng vào một ngày mới tốt đẹp hơn - cuộc sống rất cần những hy vọng lạc quan để có một cái đích mà hướng tới - "Mặt trời le lói ánh sáng trở lại khi trên đồng chỉ còn hai thân thể nhàu nhừ", vâng dù chỉ là "le lói sáng", nhưng đó là những le lói hy vọng của một con người khổ cực sau một quãng đời đầy cam chịu, mà cực điểm là cam chịu bị hiếp, chính cái cam chịu kế cùng này làm trỗi dậy hy vọng sống tốt đẹp. Và câu truyện lại mở ra với hy vọng xuất hiện một sinh linh mới - quá nhân văn - trong tận cùng sự khổ cực của cuộc sống, thì mầm sống vẫn luôn tồn tại và sẵn sàng nhú lên trong bất cứ hoàn cảnh nào. "Cảm giác một cái gì, nhỏ xíu nhưng lanh lợi như con loăng quăng đang vui sướng, ngụp lặn trong nó. Đứa con gái thoáng nghĩ, có thể mình sẽ sinh con". Vâng, nhân văn chính là ở chỗ, dù trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nghiệt ngã nào thì cuộc sống vẫn vẫn tồn tại và phát triển - cuộc sống cần sự lạc quan tin tưởng và sinh sôi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét