Thứ Bảy, 30 tháng 10, 2010

Bằng Việt, những nhiệt năng tỏa sáng từ "Bếp lửa"

Bằng Việt là người có sức lao động đáng nể trọng trên nhiều lĩnh vực: thơ, dịch, biên soạn sách. Và ẩn chứa trong sức lao động miệt mài ấy của ông là niềm đam mê, tài năng, và một bề dày văn hóa.

Bằng Việt sinh ngày 15/6/1941, tức năm Tân Tỵ. Quê gốc ở làng Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Nội.

Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên trên văn đàn bằng tập thơ “Hương cây - Bếp lửa”, in chung với Lưu Quang Vũ năm 1968 ("Hương cây"của Lưu Quang Vũ, "Bếp lửa" của Bằng Việt), Bằng Việt đã được các thi sĩ đàn anh như Chế Lan Viên, Yến Lan, Khương Hữu Dụng, Lưu Quang Thuận…chú ý, và các nhà nghiên cứu văn học Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh quan tâm. 

Chính Văn Cao đã vẽ bìa cho tập thơ đầu tay của hai thi sĩ trẻ này, còn Chế Lan Viên đã gợi ý đổi cái tên ban đầu, “Trái tim không bình yên” của Bằng Việt thành “Bếp lửa” cho có vẻ dung dị, gần gũi hơn; bởi chất thơ hào hoa mà đằm thắm, tinh tế mà hồn nhiên, hào sảng mà trẻ trung, tươi mới và gợi cảm, ấm áp và trí tuệ... mới là Bằng Việt, chứ không phải lối nói sách vở hay kiểu cách. Và nhà thơ Lưu Quang Thuận (bố của Lưu Quang Vũ) đã đặt tên ghép chung cho tập thơ này.

Hồn thơ ấy của Bằng Việt được giới trẻ, nhiều lớp sinh viên Hà Nội thời ấy yêu mến, chép ở sổ tay. Điển hình cho áng thơ hồn hậu, thương mến, gợi cảm xa xăm ấy là bài “Bếp lửa” (được đưa vào sách giáo khoa lớp 9), ông viết năm 1963, khi đang là chàng sinh viên Luật ở Đại học tổng hợp Kiev (Liên Xô cũ), hay bài “ Về Nghệ An thăm con ”, mà ông viết tặng một người bạn ở cùng Viện Luật học, thời ông còn chưa có vợ, có con, mà cũng chưa vào đến Nghệ An bao giờ, năm 1966.

Tri thức, kiến văn và tâm hồn thơ trữ tình giàu tưởng tượng, vốn được cộng hưởng sự truyền cảm của tâm hồn người mẹ, suốt từ những năm ấu thơ, thời gian ông cùng bà nội và ba mẹ còn ở Huế (Gia đình ông ở Huế 18 năm, khi cụ thân sinh ra ông là luật gia, còn làm ở Văn phòng giúp việc cho cụ Bùi Bằng Đoàn, Thượng thư Bộ Lễ triều Nguyễn). 

Cho đến cách mạng tháng Tám, gia đình ông về lại Hà Nội, theo kháng chiến, bố ông từ đây lên chiến khu Việt Bắc... đã làm nên tư chất và phẩm cách thơ Bằng Việt. Đấy là những tháng năm mà thân mẫu đã dạy toán, dạy tiếng Pháp cho ông. Những năm cụ bà gần gũi với nữ sĩ Anh Thơ, thuộc làu Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ Vân Đài, Ngân Giang, Tương Phố.

Và Bằng Việt, từ cái nôi văn hóa ấy, cho đến sau này, dù làm việc ở nhiều cơ quan khác nhau, làm nghiên cứu, làm biên tập xuất bản, bươn trải qua nhiều vùng đất, đi viết ở chiến trường trong quân số của Bộ Tư lệnh Trường Sơn cùng Lê Lựu, Phạm Tiến Duật, đến khi về làm quản lý ở Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, thì trong nhiều tập thơ của ông, niềm thơ đau đáu, chủ đạo, theo suốt cuộc đời ông vẫn là Hà Nội. 

Một Hà Nội: “Sông Hồng ơi! Dông bão chẳng phai màu/Rùa thần thoại vẫn nhô lưng đội tháp/Chùa Một Cột đổ lên đầu giặc Pháp/Lại nở xòe trọn vẹn đóa sen/Dù nhiều điều tôi nhớ tôi quên/Nhưng Hà Nội trong tôi là vĩnh viễn” ("Trở lại trái tim mình").

Nếu thơ Bằng Việt từ "Bếp lửa" nhen lên thành nhiệt năng thơ hồn hậu, thành vóc thành hình của một người thơ tài hoa, hiển nhiên rồi, nhưng ta còn thấy có một Bằng Việt khác - rộng hơn khả năng một nhà thơ Bằng Việt trong thế hệ những nhà thơ chống Mỹ, ấy là Bằng Việt với tư cách của một dịch giả, một nhà biên soạn. 

Với kiến văn, tầm văn hóa luôn chịu học, chịu đọc, chịu nghiên cứu, nghiền ngẫm... ông còn tham gia thẩm định hàng loạt tác phẩm, công trình văn hóa, văn nghệ, viết lời tựa, giới thiệu nhiều tuyển tập, tác phẩm lớn, không chỉ trong văn chương mà cả những tác phẩm, tác giả âm nhạc lớn của thế giới. Và những công trình ấy cũng có những vị trí rất đáng nể trọng trong văn nghiệp và con người văn hóa của ông.

Một Bằng Việt hiện hữu tái sáng tạo, thăng hoa trong rất nhiều gương mặt thơ tiêu biểu của Nga, của Đức, của Pháp, Ấn Độ, Hy Lạp, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Ba Lan, Mỹ, Chile, Thổ Nhĩ Kỳ. Đặc biệt là mảng thơ trữ tình, dường như là một thế mạnh chuyển ngữ của ông. Cao hơn thế, nó là sự đồng điệu, lay thức, chuyển hồn thơ một cách tài tình. 

Qua bản dịch của ông, nhiều lứa sinh viên giờ còn lưu chép trong sổ tay một thời tươi trẻ, trong sáng của mình giọng thơ, giai điệu thơ trữ tình đằm thắm, rung động, buồn nhớ, sâu lắng của nữ thi sĩ Nga, Olga Bergholtz trong "Gửi Borix Coócnilop", "Mùa lá rụng".

“Em lại nhớ chuyện ngày quá khứ/Khúc hát ngây thơ một thời thiếu nữ/Ngôi sao cháy bùng trên sóng Neva/Và tiếng chim kêu những buổi chiều tà/Năm tháng đắng cay hơn, năm tháng ngọt ngào hơn/Em mới hiểu, bây giờ anh có lý/Dù chuyện xong rồi, anh đã xa cách thế!/Em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa theo…” ("Gửi Bôrix Coócnilốp"). 

Có lẽ vốn tiếng Nga, những năm học ở xứ sở Bạch dương thấm đẫm trong ông tâm hồn, tinh thần Nga, sự kì vĩ của những cánh đồng, thảo nguyên mênh mông chăng?

Ta đọc được từ bản dịch của ông nhiều thi sĩ lớn của thế giớ Bertolt Brecht (Đức), Paul Eluard (Pháp), Evgheni Evtushenko (Nga), Nazim Hikmet (Thổ Nhĩ Kỳ), Federico Garcia Lorca (Tây Ban Nha), Yannis Ritsos (Hy Lạp), Pablo Neruda (Chile).

Những năm 70, 80 thế kỷ trước, Bằng Việt từng cộng tác cùng nhiều nhà thơ nổi tiếng như Tế Hanh, Huy Cận, Xuân Diệu, Đào Xuân Quý, Phạm Hổ, lần lượt dịch và in các tập thơ của Pablo Neruda, Yannis Ritsos, các tập thơ Nga. 

Năm 1982, ông được cử đi dự Hội nghị các nhà văn Á-Phi ở Liên Xô, sau đó dự Hội nghị Dịch thuật Quốc tế và được trao Giải thưởng về dịch thuật văn học Nga tại đây. 

Năm 2003, ông in tập thơ dịch "Thơ Raxun Gamzatop", và gần nhất, năm 2005, Bằng Việt đã tuyển dịch và xuất bản tập "Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX", gồm 260 bài của 117 tác giả, ở 35 quốc gia trên thế giới. Đây là một tập thơ có tầm vóc, một công trình tiêu biểu về dịch thuật văn học của ông mà bạn đọc yêu thơ ghi nhận. 

Nhân sự kiện ra đời tập thơ dịch này, nhà thơ Phạm Tiến Duật nhận xét hóm hỉnh rằng: “Với Bằng Việt, thơ dịch chỉ là một gác xép nhưng với người khác thì nó là cả một lâu đài”. Và với tập “Thơ trữ tình thế giới thế kỷ XX ”, Bằng Việt được Hội Nhà văn Hà Nội trao tặng Giải thưởng suốt đời về thành tựu Dịch thuật, năm 2006.

Có nhiều năm làm quản lý ở Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, làm Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội nhưng sức lao động nghệ thuật của Bằng Việt thật trường lực. 

Ông sáng tác, riêng về thơ, đã có 9 tập thơ xuất bản; ông biên soạn các tuyển tập văn học, như"Tuyển thơ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội" (từ thế kỷ X đến thế kỷ XXI), gồm hai cuốn, dày đến 2000 trang, và biên khảo tập “Kẻ sĩ Thăng Long” sắp ra mắt trong dịp kỉ niệm 1000 năm Thăng Long–Hà Nội; ông dịch sách, viết lời tựa cho sách ở hàng trăm cuốn sách đã xuất bản. 

Và đặc biệt, dù viết cho một thể loại nào, một tác giả nào, ông cũng viết với sự đánh giá công bằng, có trách nhiệm và đúng với những gì ông cảm nhận về tác phẩm đó, chứ không phải viết làm hàng, bốc thơm, như không ít người sẵn sàng viết tựa, bán tên cho kể cả những cuốn văn chương câu lạc bộ cấp phường, khóm hoặc các đại gia rủng rỉnh hầu bao, lại thích hư danh.

Chẳng hạn, Bằng Việt biên soạn và viết lời tựa rất hay cho cuốn "Kim Vân Kiều truyện", bản dịch từ đầu thế kỷ trước của Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung. Bạn bè văn chương gọi vui ông là “chuyên gia viết lời tựa”. Chứng tỏ Bằng Việt được các tác giả hoặc các nhà làm sách rất chuộng, những lời tựa mang thương hiệu Bằng Việt. 

Và rất ngạc nhiên, ông viết cả một truyện ký đến hơn 300 trang về cuộc đời và sự nghiệp của thiên tài âm nhạc Mozart. Viết lời tựa cho cuốn sách do Nguyễn Thụy Kha viết về nhạc sĩ Việt Kiều ở Pháp, Nguyễn Thiện Đạo. Sự am hiểu và cảm thụ âm nhạc của ông được nhạc sĩ Phạm Tuyên đánh giá: “ Những hiểu biết về âm nhạc của Bằng Việt không thua nhiều nhạc sĩ chuyên nghiệp”.

Bằng Việt là thế. Ông là nhà thơ, nhà quản lý văn nghệ, nhà biên dịch, biên soạn, “chuyên gia viết tựa” có bản sắc. Vẫn thấy ông túc tắc đến cơ quan, túc tắc họp hành, túc tắc chuẩn bị những công trình văn hóa văn nghệ cho ngày Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, túc tắc cùng bè bạn uống bia, lúc thì quán Bầu bạn, lúc ở Câu lạc bộ bia Gold Malt. Mà Bằng Việt lại uống dai, ít người sánh bằng, thế mới tài.

Nhưng sách của ông cứ ra đều đặn, các bản dịch từ tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp và các lời tựa, lời giới thiệu sách của nhiều thể loại... vẫn cứ ra đều đều thì có lạ, có đáng nể trọng sức lao động không nhỉ? Ấy là một Bằng Việt tài hoa, chịu học hỏi và chịu làm việc hết mình, con người đa diện và lấp lánh của nhiệt năng sáng tạo./.

Azit Nexin

Azit Nexin là một nhà văn chuyên viết truyện cười nổi tiếng của đất nước Thổ Nhĩ Kỳ, ông viết truyện chính là để bày tỏ thái độ căm phẫn và phần nào đau xót trước những cảnh bất công trong xã hội tư sản Thổ Nhĩ Kỳ, ông đã vẽ nên một bức biếm họa về xã hội lệ thuộc Mỹ ở quê hương ông và ở nhiều nước phương Tây khác.
Azit Nexin đã phê phán rất sâu sắc cái Xã hội với bộ máy quyền lực đầy rẫy những kẻ ăn bám lười nhác, sống xa hoa trụy lạc...Azit Nexin đã khiến người đọc phải cười một cách chua xót trước một xã hội ngèo nàn, lạc hậu... Azit Nexin đã khiến người đọc phải cười trong nước mắt khi thấy một xã hội bị đồng tiền làm đảo điên khi đồng tiền chi phối hầu hết các mối quan hệ xã hội.
Đọc truyện của Azit Nexin, ta có thể nhận thấy tiếng cười của Azit Nexin rất sắc nhọn khi đả kích, châm biếm giai cấp tư sản thống trị đạo đức giả; và cũng nhận thấy tiếng cười của ông thật hiền lành, nhân hậu khi nói về những thói hư tật xấu của con người trong cuộc sống hàng ngày, những chuyện vặt vãnh đáng yêu của con người.
Truyện của Azit Nexin viết cách đây đã hàng chục năm nhưng khi đến với bạn đọc Việt Nam, nó vẫn phần nào còn mang tính thời sự, về một xã hội còn nghèo, còn lạc hậu, về những thói hư tật xấu của con người trong đời sống...Tất cả tạo ra một sự thích thú chứa đựng nhiều bất ngờ khi chúng ta đọc truyện của ông, và chúng tôi muốn truyền lại sự thích thú này đến đông đảo bạn đọc bằng cách giới thiệu một số truyện của nhà văn Azit Nexin.

Đắc Nhân Tâm - Cuốn Sách Hay Nhất Của Mọi Thời Đại Đưa Bạn Đến Thành Công

Đắc nhân tâm – How to win friends and Influence People của Dale Carnegie là quyển sách nổi tiếng nhất, bán chạy nhất và có tầm ảnh hưởng nhất của mọi thời đại. Tác phẩm đã được chuyển ngữ sang hầu hết các thứ tiếng trên thế giới và có mặt ở hàng trăm quốc gia. Đây là quyển sách duy nhất về thể loại self-help liên tục đứng đầu danh mục sách bán chạy nhất (best-selling Books) do báo The New York Times bình chọn suốt 10 năm liền. Riêng bản tiếng Anh của sách đã bán được hơn 15 triệu bản trên thế giới. Tác phẩm có sức lan toả vô cùng rộng lớn – dù bạn đi đến bất cứ đâu, bất kỳ quốc gia nào cũng đều có thể nhìn thấy. Tác phẩm được đánh giá là quyển sách đầu tiên và hay nhất, có ảnh hưởng làm thay đổi cuộc đời của hàng triệu người trên thế giới.
Không còn nữa khái niệm giới hạn Đắc Nhân Tâm là nghệ thuật thu phục lòng người, là làm cho tất cả mọi người yêu mến mình. Đắc nhân tâm và cái Tài trong mỗi người chúng ta. Đắc Nhân Tâm trong ý nghĩa đó cần được thụ đắc bằng sự hiểu rõ bản thân, thành thật với chính mình, hiểu biết và quan tâm đến những người xung quanh để nhìn ra và khơi gợi những tiềm năng ẩn khuất nơi họ, giúp họ phát triển lên một tầm cao mới. Đây chính là nghệ thuật cao nhất về con người và chính là ý nghĩa sâu sắc nhất đúc kết từ những nguyên tắc vàng của Dale Carnegie.
Quyển sách Đắc nhắn tâm “Đầu tiên và hay nhất mọi thời đại về nghệ thuật giao tiếp và ứng xử”, quyển sách đã từng mang đến thành công và hạnh phúc cho hàng triệu người trên khắp thế giới.
Mục lục:
Lời giới thiệu
Phần 1: Nghệ thuật ứng xử căn bản
Muốn lấy mật thì đừng phá tổ ong
Bí mật lớn nhất trong phép ứng xử
Ai làm được điều dưới đây, người đó sẽ có cả thế giới
Phần 2: Sáu cách tạo thiện cảm
Thành thật quan tâm đến người khác
Cách đơn giản để tạo ấn tượng tốt đẹp
Để mọi việc luôn được suôn sẽ
Để trở thành người giao tiếp khéo léo
Thu hút sự quan tâm của người khác
Để người khác yêu thích bạn ngay lập tức
Phần 3: 12 cách hướng người khác suy nghĩ theo bạn
Không tranh cải!
Tôn trọng ý kiến người khác
Thẳng thắn thừa nhận sai làm của mình
Mật ngọt trong giao tiếp
Bí quyết của Socrates
Khôn ngoan khi gặp đối đầu
Để nhận được sự hợp tác cao nhất
Đặt mình vào hoàn cảnh người khác
Điều mọi người mong muốn
Khơi gợi sự cao thượng
Trình bày vấn đề một cách sinh động
Khơi gợi tinh thần vượt lên thử thách
Phần 4: Chuyển hoá ngưới khác mà không gây ra sự chống đối hay oán giận
Trước khi phê bình, hãy khen ngợi
Phê bình một cách gián tiếp
Nhìn nhận sai lầm của bản thân trước khi phê bình người khác
Gợi ý thay vì ra lệnh
Giữ thể diện cho người khác
Khuyến khích người khác
Cho người khác niềm tự hào
Mở đường cho người khác sửa chữa lỗi lầm
Tôn vinh người khác.

Nguyễn Hiến Lê


“Tôi sinh ra và lớn lên ở ngõ Phất Lộc, trông ra bờ sông Nhị Hà. Ngõ rộng độ hai thước, dài độ hai trăm thước, mươi căn nhà dồn vào ngõ hẹp thấp hơn mặt đường đến một thước mà ngày cũng như đêm đều tối om om. Đã không có gì đẹp lại còn bẩn thỉu nữa… Bên ngoài, trên đường Bờ Sông, gần ngõ Phất Lộc có một cái đình không biết thờ vị thần nào mà kiến trúc rất đơn sơ. Hai cánh cửa gỗ luôn đóng kín, trên mái cổng tam quan có đắp một bầu rượu khá lớn nằm giữa hai con rồng uốn khúc châu đầu vào. Thuở bé, tôi được theo bà ngoại vào đình mấy lần, tôi thấy bên trong là một khoảng sân rộng vắng ngắt. Tuy vậy, mà quang cảnh lạnh lẽo trầm mặc thâm u của ngôi đình bỗng nhiên len sâu trong tâm tư tôi những khi ngồi học trong lớp, hoặc những khi tôi đến chơi nơi nào đông vui là tôi lại chạnh nghĩ đến ngôi đình, nhớ đến bà ngoại tôi. Nhất là sau ngày cha tôi và bà ngoại tôi vĩnh viễn ra đi trong cái ngõ hẹp tối tăm ấy...”
Bút danh Lộc Đình tôi dùng ký dưới một bài văn ngắn từ hồi trẻ… Lộc là ngõ Phất Lộc, còn Đình là cái đình ấy…
Cái ngõ Phất Lộc đã từng có mặt trong văn Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài... Cái ngõ Phất Lộc chắc bây giờ chẳng còn mấy dáng dấp của 70 năm trước, khi người kể những hồi ức trên rời quê hương vào Nam lập nghiệp. Đó là một buổi trưa ngày rằm tháng Chạp năm Giáp Tuất, trời u ám, mưa phùn lất phất và lòng người đi buồn vô hạn. Điều buồn tiếc hơn nữa là, cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, nhà văn, nhà văn hóa Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê cũng không có dịp nào được trở về...
Bây giờ thì ở thành phố Hồ Chí Minh đã có một đường mang tên Nguyễn Hiến Lê để tưởng lệ những đóng góp của ông với văn hoá dân tộc. Bây giờ thì sách của đã được tái bản với lượng in hàng vạn bản, xếp đầy các giá ở những hiệu sách lớn. Nhưng hình như rất nhiều người Hà Nội vẫn còn chưa được biết ông chính là đứa ở của đất Kẻ Chợ Thăng Long và tên tuổi ông gắn chặt một với cái ngõ nhỏ thân yêu tự thuở thơ ấu. Ngày 22/12/2004 là kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất nhà văn gốc Hà Nội - Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê. Sinh năm 1912, cùng năm với Hàn Mạc Tử, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, nhưng hình như định mệnh đã ưu ái với ông hơn, ông đã được sống và làm việc cách đều đặn, vì chỉ mất vào năm 1984, vì tuổi già. Song ở một khía cạnh khác, hình như định mệnh lại cũng thách ông, như một nhà văn đã viết: trong làng văn nước nhà, có lẽ không ai dự bị vào nghề lâu như anh: trên mười năm trời...". Cả một thời gian rất dài, mặc dù sách ông làm ra đã ấn hành rất nhiều, tên tuổi ông vẫn không mấy được nhắc đến. Trong cuốn Từ điển văn học, hai tập, hàng nghìn trang in khổ lớn, xuất bản 1984, không thấy một dòng nào dành cho ông. Riêng ở Hà Nội, mươi năm trở lại đây, khi hàng loạt sách của ông được bản, người đọc bình thường mới dần làm quen với tên một nhà văn, một học giả: Nguyễn Hiến Lê và có lẽ cũ còn rất ít ai biết nhà văn vốn sinh ra và trưởng thành tài từ Hà Nội.
Một lần, vào năm 1978, một nhà văn trẻ, trong khu tài liệu cho một cuốn tiểu thuyết lịch sử về thành Thăng Long, đã vào Sài Gòn, tìm đến tận nhà thăm ông và xin được ông chỉ giáo. Qua câu chuyện khá dè dặt của một con người thận trọng, trầm tĩnh, nhà văn trẻ được biết ông đang cố gắng để hoàn thành một sự nghiệp với khoảng một trăm tên sách với trung bình 800 trang bản thảo đều đặn mỗi năm, như một người bạn gần gũi, ông đã viết trong một chân dung văn học, toàn bộ tác phẩm của ông ước đến mấy mươi nghìn trang in. Nào bút ký văn học. Nào khảo luận. Nào nghiên cứu. Nào dịch thuật... Một sức lao động thật kinh ngạc và đáng cho bất cứ một ai cũng phải kính trọng, khâm phục.
Và đó là những cuốn sách như thế nào?
Hãy đơn cử mấy cuốn Khổng Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử, Đại cương triết học Trung Quốc vừa ra gần đây. Với số lượng in đến mấy nghìn bản, và chắc chắn không phải là dễ đọc lắm, vậy mà trên những quầy sách lớn Thủ đô, chỉ bày chưa đầy ba tuần đã không dễ còn tìm mua được. Còn đến lượt cuốn Liệt tử - Dương tử... “Từ trước tới nay chưa có một học giả nào, cựu học và tân học, mà có công giới thiệu Cổ học Trung Hoa bằng ông Nguyễn Hiến Lê" - một nhà văn đã nhận xét.
Nhưng ông đâu chỉ am tướng triết học hay riêng triết học phương Đông. Để có một khái niệm nào đó về nhận thức uyên bác và biên độ sáng tạo của ông trong nhiều lĩnh vực tưởng chừng khá xa nhau, ta thử lướt qua một vài tên sách trong danh mục rất dài gắn với tên tuổi, với thành quả lao động của ông.
Tôi tập viết riêng Việt. Khảo luận về ngữ pháp ViệtNam. Hương sắc trong vườn văn. Trên đường thiên lý. Tổ chức công việc theo khoa học. Đắc nhân tâm, bí quyết để thành công. Xung đột trong đời sống quốc tế. Bảy bước thành công. Gương kiên nhẫn. Đông Kinh nghĩa thục. Đại cương văn hợc sử Trung Quốc. Nho giáo: một triết lý chính trị. Đại cương triết học Trung Quốc (viết chung với Chi). Sử ký Tư Mã Thiên (dịch chung với Giản Chi). Lâm Ngữ Đường: Một quan niệm sống đẹp. Dịch L.Tônxtôi: Chiến tranh và hoà bình. Dịch bộ lịch sử văn của Will Durant với các tập quan trọng nhất như: Văn Trung Hoa, Văn minh Ấn Độ, Văn minh Ả Rập, Bài học lịch sử.
Từ cổ đại đến hiện đại. Từ Tây sang Đông. Từ văn học đến triết học. Từ ngôn ngữ học đến sử học. Từ nghệ thuật là đến nghệ thuật kinh doanh. Cả về Đông y, về Tử vi, Dịch lý, về Địa lý phong thuỷ... Tưởng như không một lĩnh vực nào ông không quan tâm. Ông xứng đáng là một nhà bách khoa uyên bác đáng tin cậy. Có lẽ, thấm sâu những tư tưởng Lão - Trang, ông đã cố để cho đời đừng biết đến mình. Ông sống lặng lẽ, làm việc lặng lẽ, cố đem những gì tiến bộ nhất trong tư tưởng, trong khoa học là mình hiểu biết để giúp đỡ. Và lý tưởng của nhà văn đơn giản chỉ vậy thôi. Như một người bạn của ông kể lại, cứ xét lối làm việc thì ông là người mới? Có tổ chức, có phương pháp như một nhà khoa học, nhưng xét về lối sống, lối cư xử thì ông là một người cổ: thanh bạch, giản dị, chỉ ưa sách và hoa, ghét sự ồn ào, nhất là ồn ào của danh vọng, tính tình có vẻ hơi nghiêm, đối với bạn bè thì chân thành nhưng đượm vẻ đạm bạc của nhà nho... Cũng có lẽ, vì thế, mà cho đến nay, sự nghiệp của ông lớn lao là thế, hữu ích là thế mà hầu như vẫn nằm trong khuất lấp. Có cả một công trình của nhà nghiên cứu in về ông, những chân dung do họ, do học trò, đồng nghiệp ông viết lại, trân trọng, kính phục.
Một lần, ông tâm sự: 'Tất nhiên ai viết thì cũng mong sách bán được, tôi đã sống chuyên về cây viết thì lại càng không thể bỏ qua phương diện đó. Nhưng có những cuốn tôi biết rằng bán sẽ rất chạy mà không khi nào tôi viết. Lại có những cuốn tôi biết chắc rằng không bán được mà tôi vẫn bỏ ra mấy năm để viết... Điều quan trọng là ta phải thành thực với mình. Và chưa bao giờ tôi viết một cuốn sách nào mà không thành thực với tôi, mà không thích nó, không tin rằng nó có ích” Tưởng không có lời nào chính xác hơn về ông.
Từ rất lâu, tên tuổi Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) đã được nhiều người biết tới như một nhà văn, một học giả, một nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập, với 120 tác phẩm biên soạn và dịch thuật để đời có giá trị, thuộc đủ mọi lãnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký... Ngoài ra, thế hệ hậu bối còn noi gương được ở ông nhiều thứ: gương tự học, tinh thần làm việc nghiêm túc, và nhất là nhân cách cao thượng của một người trí thức chân chính.
Ông Nguyễn Hiến Lê không trực tiếp làm chính trị, nhưng lúc nào cũng đau đáu lo việc cho đời, bằng cách thế hoạt động của riêng mình. Ông tin ở các giá trị văn hóa như một yếu tố sức mạnh tinh thần có ý nghĩa quyết định cho tương lai của dân tộc hơn là những hành động chính trị nhất thời, nên đã tận tụy làm việc cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, tìm mọi cách lay động trái tim con người nhằm phổ biến và cổ vũ cho những ý tưởng nhân bản thâu góp từ đông tây kim cổ mà ông thấu hiểu và đề nghị mọi người chia sẻ như là căn bản của một nền chính trị bền vững khả dĩ mang lại cuộc sống phát triển trong ổn định và ấm no hạnh phúc của nhân dân.
Đời sống bản thân ông khiêm tốn, giản dị, làm việc nhiều hưởng thụ ít, không thích ồn ào, nhưng tư tưởng, tâm hướng và lòng ông thì thật sâu kín, rộng rãi, nồng nàn, có lẽ vì thế mà viết ra điều gì cũng với lời văn giản dị, dễ hiểu, trung thực với ý mình. Ông luôn đứng về phía nhân dân lao động nghèo khổ mà cả một thời thơ ấu hàn vi ông đã từng chia sẻ, nên đã mạnh dạn phê phán những hành vi sai trái của các nhà đương cuộc mà ông luôn quy trách nhiệm chính cho những tình trạng suy bại xã hội của mọi thời. Trước sau ông không xu phụ, thỏa hiệp với giới cầm quyền đương thời để được hưởng những đặc quyền trong xã hội. Mặc dù vậy, tâm huyết của ông cũng không được đời đáp ứng là bao, nên không tránh khỏi có những lúc phải ngậm ngùi chua xót cho sự bất lực của mình trước thời cuộc. Tâm sự của ông có lẽ cũng giống như Tô Thức, một tác giả Trung Quốc ông yêu thích mà có lần ông đã dẫn chứng mấy câu thơ: Thẹn hoài cho người nước này, đau xót như có gai đâm trong da thịt, bình sinh đọc năm ngàn quyển sách, nhưng không có một chữ nào cứu đói cho dân được.
Nhiều người hiểu Nguyễn Hiến Lê hơn qua tập Hồi ký (NXB Văn Học, 1993) và Đời viết văn của tôi do ông tự viết (NXB Văn Hóa, 1996). Ông cũng tự kể về cuộc đời và việc làm của mình qua bài trả lời phỏng vấn khá dài của ông Nguyễn Ngu Í đăng trên tạp chí Bách khoa (1965) trong mục “Sống và viết với...”, rồi in thành sách (1966), và một bài khác nữa do ông Lê Phương Chi thực hiện (in trong tập Tâm tình văn nghệ sĩ, NXB Thanh Niên, 2001). Ngoài ra còn có cả một tập tiểu sử Nguyễn Hiến Lê, cuộc đời và sự nghiệp của Châu Hải Kỳ (NXB Văn Học, 1993) dày đến trên 300 trang. Để tìm hiểu về ông, tưởng như thế cũng đã tạm đủ. Tuy nhiên càng về sau, nhất là khi sách Nguyễn Hiến Lê được xuất bản sau thời kỳ chuyển hình của đất nước (mà người khai phá đầu tiên là ông Ba Kính, giám đốc NXB Long An trong những năm 90), nhiều người càng biết rõ chân giá trị những tác phẩm của ông hơn, cũng như chí hướng và lòng tinh thành mà ông đã gởi gắm hết vào, thì có nhiều tác giả lại viết thêm về ông đứng từ những góc độ nhìn khác nhau.
Theo  Văn hiến Việt Nam 

Nguyễn Khắc Viện - Tác Phẩm (Trọn Bộ 5 Cuốn)

Nguyễn Khắc Viện - Tác Phẩm (Trọn Bộ):Trong lễ tưởng niệm bác sĩ Nguyễn Khắc Viện tại Paris, Tiến sĩ Sử học Charles Fourniau, Chủ tịch Hội Hữu nghị Pháp - Việt đã viết:

"... Ngay từ những phút đầu tiên, tôi nhận ra ngay đây sẽ là bậc thầy  của tôi. Và ông mãi vẫn là bậc thầy của tôi. Tôi may mắn được tiếp cận ông - một trong những trí tuệ sáng chói nổi bật nhất. Vốn văn hoá của ông, hay  nói đúng ra là vốn các văn hoá của ông, bởi lẽ ông có đến ba vốn văn hoá, Việt Nam, Trung Hoa, Pháp... quả thật dường như là vô hạn...".

Nhiều tác phẩm của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho đến nay vẫn còn những giá trị lớn lao. Bất cứ đối tượng nào, từ người già, thanh niên đến trẻ em đều có thể thấy qua tác phẩm của ông bóng dáng một người bạn, một người thầy, một người ông với kiến thức uyên thâm và tấm lòng nhân ái. Về một số vấn đề có tính thời sự, trong dịp tái bản cuốn "một đôi lời" trước ngày đi xa một năm, ông đã viết:"... Mới hơn 10 năm mà nay nhớ lại nhiều việc, như là chuyện thời xa xưa, cả nước đã chuyển sang một thời đại mới. Nay cho in lại, xin cứ giữ nguyên bản, không sửa chữa, như là một vết tích của một thời, để cho bạn đọc ngày nay thấy một số người "xưa kia" suy nghĩ những gì... Thời thế thay đổi, không thể không thay đổi ý kiến, loại trừ một số sai lầm tư tưởng, nhưng điều không thể thay đổi là cái đạo lý làm người. Thức thời, chứ không phải cơ hội...".

Quả là toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Khắc Viện, kể cả những đề tài "thời sự" đã qua như phong trào "hợp tác xã" hay "Liên Xô"... vẫn sáng rõ một "đạo lý" đẹp đẽ và chung thủy của một sĩ phu trung trực, hết lòng vì nước vì dân, nên đều có giá trị bổ sung kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn cho nhiều thế hệ bạn đọc.

"Ai cũng khâm phục trí tuệ uyên bác, con người mẫu mực và lối sống cần cù, giải dị của ông". (Hoàng Tùng).

"Cuộc đời bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là một tấm gương sáng giúp tôi thêm nghị lực để vượt lên số phận luôn đầy ắp những lo toan, vất vả, rủi ro, cơ cực khôn lường". (Lê Phú Khải).

"Qua các bài viết của mình, bác sĩ Việtn cho thấy ông là một nhà bình luận xã hội cực kỳ nhạy cảm, có thể nói là một triết gia xã hội". (David Marr và Jayne Werner).

"Nhiều người gọi ông là bác sĩ vì ông tốt nghiệp xuất sắc trường Đại học Y khoa năm 1941. Viện Hàn lâm khoa học Pháp trong một bài văn bản ghi chức danh ông là nhà thơ, nhà sử học vì dịch Truyện Kiền ra tiếng Pháp với cả tâm hồn thi sĩ, vì ông viết nhiều bài về lịch sử Việt Nam bằng tiếng Pháp. Một số người gọi ông là nhà báo vì ông viết nhiều bài giàu chất triết lý đăng trên nhiều báo trong và ngoài nước. Ở một số cơ quan y tế, giáo dục, người ta gọi ông là nhà tâm lý nghiên cứu tâm lý trẻ em. Nhà sử học Đào Duy Anh sau khi đọc một loạt bài nghiên cứu của ông gọi ông là học giả. Một số Việt kiều hiểu thấu đời ông gọi ông là sĩ phu hiện đại. Ai cũng có lý, tôi xin gọi ông bằng cái chức danh: nhà văn hoá" (Trường Giang).

"Là người hoạt động trong nhiều lĩnh vực, mọi người có thể biết và nghĩ về ông một cách khác nhau. Đó là người cha đẻ của bộ dưỡng sinh Việt Nam, nhà nghiên cứu tâm lý trẻ em, nhà báo, nhà nghiên cứu chính trị, nhà tuyên truyền đối ngoại, nhà văn, nhà làm phim khoa học, học giả đáng kính của thế giới thứ ba" (Vĩnh Xương)...

Nhà văn Sơn Tùng: quyết sống và có ích cho đời

 Cả hai ông Sơn Tùng và Lan Phương đều sinh thời thuộc Pháp, năm nay đã vào tuổi 83 và rất quí trọng nhau. Người ở thượng nguồn sông Lô, người ở Thủ đô Hà Nội, nhưng thường xuyên dốc bầu tâm sự với nhau bằng những bức thư những bài viết đầy tâm huyết về tình bạn về nhân tình thế thái, những băn khoăn về tuổi trẻ và tương lai đất nước mà tôi tìm đọc được. Đây là thế hệ đã sống qua những cơn nóng lạnh của lịch sử, từ chế độ thuộc địa đến chế độ dân chủ cộng hoà, những cuộc chiến tranh vệ quốc với hoà bình. Nên khi trò chuyện hay viết cho nhau họ có một cảm thức rất riêng của lớp người từng trải.  

Lần nào đến thăm nhà văn tôi cũng được mời vào chiếu văn của Sơn Tùng, nên từng có cơ may được hầu chuyện cả nhà văn quá cố  Hữu Mai, nhà thơ Lê Đạt… Tôi đã được Sơn Tùng mời vào phòng văn của ông, một căn phòng chật hẹp, đi tới chỗ bàn viết như qua một đoạn giao thông hào, hai bên tường là sách. Tôi không khỏi ngạc nhiên một người như Sơn Tùng mà lại ngụ ở một căn nhà xoàng như vậy tại thủ đô Hà Nội, có đủ loại khách xa gần trong ngoài nước thường xuyên lui tới gặp ông? Những khoảng thời gian quí hiếm đó tôi khám phá được ở Sơn Tùng nhiều mặt từ văn chương đến cuộc đời. Sơn Tùng là một kho tri thức lớn từ cổ tới kim từ đông sang tây. Dường như con người ông là sự kết đọng của lịch sử văn hóa Việt Nam. Được trò chuyện với Sơn Tùng, tôi tâm đắc nhất là những tri thức về lịch sử văn học dân tộc. Ông là một nhà văn đi nhiều, học rộng, sống lâu, có mối tâm giao với nhiều nhà văn hóa lớn ở nhiều thế hệ như Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai cùng các nghệ sĩ và học gỉa nổi tiếng như Văn Cao, Nguyễn Khắc Viện, Phan Ngọc… Và niềm hạnh phúc lớn lao nhất đời ông từng được sống và làm việc với Bác Hồ. Tôi tìm thấy trong con người Sơn Tùng nhiều thế hệ người Việt Nam. Ông vừa có cái bóng của những nhà Nho đầu thế kỷ XX vừa có cái dáng của người trí thức thời Pháp thuộc, vừa có tính cách của một nhà văn hiện đại; cái vẻ chân chất của người nông dân và những nét hồn nhiên mạnh mẽ của người lính Cụ Hồ. Ông đi làm cách mạng từ tiền khởi nghĩa; tham gia kháng chiến suốt tuổi thanh xuân, trong những ngày đất nước còn chia cắt, đi chiến trường bị bom rơi đạn lạc thành người thương tật. Nếu cứ nhìn vào tập hồ sơ bệnh án của một thương binh nặng (hạng ¼) thì không ai tưởng tượng được lại còn một nhà văn Sơn Tùng cho đến hôm nay. Nhưng đó là sự thực. Sơn Tùng đã quyết sống và có ích cho đời. Ai đã cứu ông trở lại với đời? Tất nhiên có đồng đội có thày thuốc có người vợ thấu tình. Song chưa đủ. Chính Sơn Tùng đã cứu mình ra khỏi những cái chết kề bên, những cơn bệnh dày vò trên 40 năm qua để có một đời văn cao đẹp đến không ngờ. Ông luyện tập thân thể bằng mọi cách, ông rèn tinh thần bằng mọi khả năng. Ông chú trọng quan niệm “trị bệnh không dùng thuốc”. Phải chăng ý chí “lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều” nên ở tuổi 83 Sơn Tùng vẫn có một bộ óc như “cuốn từ điển sống”minh mẫn đến lạ thường! 

Sơn Tùng bước vào nghiệp văn không định trước. Năm 1950 ông bắt đầu viết những trang ký về kháng chiến. Năm 1955 ông cho ra đời bài thơ đầu tay “Chiếc nón bài thơ” đã trở thành bài hát. Rồi tiếp đến ông là nhà báo chiến trường, nhà văn của những trang ký và tiểu thuyết. Từng đọc các tác phẩm Nhớ nguồn, Kỷ niệm tháng năm, Búp sen xanh, Bông sen vàng, Trái tim quả đất, Bác về, Từ làng Sen, Hẹn gặp lại Sài Gòn, Hoa râm bụt, Sáng ánh tâm đăng, Bác ở nơi đây, Chuyện Bác Hồ cả trăm năm chưa hề thấu ngọn nguồn, Con người và con đường, Trần Phú, Nguyễn Hữu Tiến người vẽ cờ Tổ quốc, Anh hoạ sĩ mù, Bên khung cửa sổ, Lõm, Vườn nắng… tôi cảm nhận chỉ riêng những cuốn Búp Sen xanh, Bông Sen vàng, Lõm… cũng đủ thấy chân dung và tầm nhìn của một cây bút đi tiên phong về nghệ thuật.



Búp sen xanh (1981) ra đời trước thời kỳ đổi mới, gây ồn ào dư luận bởi một cây bút dám đưa chuyện riêng tư của vĩ nhân vào tiêủ thuyết, nhưng rồi chính cái hồn của Búp Sen xanh đã tự tìm lấy chỗ đứng vững chắc trong bạn đọc. Đây là cây bút có con mắt sớm nhìn ra chiều sâu nhân bản của một nền nghệ thuật. Nhà văn phải biết khám phá cái bình thường và cao cả sống trong mỗi con người. Và chuyện tình của nhân vật vĩ nhân có được tái tạo trong tiểu thuyết thì lại càng chân thật và cao đẹp biết bao, hơn là kiểu nhân vật vĩ nhân được thần thánh hoá trong tưởng tượng của nhiều người. Lõm (viết 1976, xuất bản 1994) cũng là cuốn tiểu thuyết được thai nghén từ hiện thực chiển tranh chống Mĩ đến trước thời kỳ đổi mới hàng chục năm đã đem lại những bất ngờ cho bạn đọc: Vì sao thân phận những cô gái “bán hoa” tưởng chừng như “bỏ đi” ấy mà vẫn chứa chan lòng nhân ái, bao dung và khát vọng nhân văn, biết thương yêu bộ đội, chở che cho cách mạng? Hóa ra họ vẫn là huyết mạch của nòi giống tổ tiên, là một phần dân tộc. Đi sâu vào khám phá thế giới bên trong con người, Sơn Tùng đã tìm ra nhiều vẻ đẹp tiềm ẩn của con người Việt Nam được hình thành bền lâu trong lịch sử. Các hình tượng nghệ thuật của Sơn Tùng cho thấy quan niệm nghệ thuật mới mẻ về con người của ông đã đi xa hơn nhiều cây bút cùng thời. Sơn Tùng viết về lãnh tụ với một niềm đam mê bất tận, không để nhằm “hưởng lộc” của vĩ nhân mà để khám phá kho báu tinh thần của dân tộc kết tinh trong một con người vĩ đại, nên ông mải miết hành trình để đi tới tận cùng của cái chân, thiện, mĩ mong dâng hiến tất cả cho hiện tại với tương lai. Tác phẩm của ông đã được nhiều học giả từ nhiều quốc gia Mĩ, Pháp, Anh, Nhật, Hàn Quốc, Nga… quan tâm lui tới chiếu văn của Sơn Tùng. Năm qua Sơn Tùng đã từ chối nhận giải thưởng về thành tích tuyên truyền tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, bởi lý do ông đã làm việc đó trên hai chục năm rồi! Dường như ông viết văn từ những động lực của tâm can chứ không phải từ nghị quyết.



Việc tái hiện không gian lịch sử và tái tạo chân dung các danh nhân là thế mạnh của Sơn Tùng. Cho dù, sáng tác là hư cấu, nhưng Sơn Tùng không bắt đầu mọi việc từ một tờ giâý trắng mà nhân vật và sự kiện của ông đã từng hiện hình trong lịch sử được tái tạo qua vốn văn hóa sâu rộng và tri thức nghệ thuật của ông dồn lên trang viết. Hình tượng các danh nhân trong tác phẩm của Sơn Tùng là tổng hoà các phẩm chất dân tộc và thời đại nhưng được hình thành từ cái nôi văn hóa quê hương, gia đình. Bên những gì là cao cả thiêng liêng, Sơn Tùng hay chú ý khám phá những điều nhỏ bé trong đời thường nhân vật, không phóng đại, tượng trưng, nhưng tìm cách cho quá khứ được tái sinh nên dễ đồng cảm với người đọc. Trong đó, lòng yêu Tổ quốc tình thương đồng bào là phẩm chất cao đẹp nhất của con người kết tinh trong hình tượng nghệ thuật của ông. Quan niệm nghệ thuật của Sơn Tùng vừa có màu sắc dân gian vừa có cái nhìn hiện đại. Thêm vào đó là lời văn bình dị tự nhiên kéo người đọc lại gần người viết.



Tác phẩm ký của Sơn Tùng, hình thành từ kho tư liệu phong phú được xây đắp suốt cuộc đời ông. Có tư liệu ông là người trong cuộc; có tư liệu ông thu thập trên con đường văn nghiệp. Ông trân trọng từ những mẩu giấy cũ có hồn người đến những bức ảnh nhạt nhoà qua năm tháng, những bút tích của bạn bè đồng chí, những kỷ vật bình dị của những nhà văn, người lính, người nông dân, ngư dân, em nhỏ, người dân tộc thiểu số ở mọi miền đất nước từ chiến tranh đến thời bình thành kho tư liệu “con người”, rồi từ đó tạo dựng lên những bức tranh chân thực về cuộc sống. Là một nhà văn thương tật, tàn nhưng không phế Sơn Tùng dấn thân vào nghệ thuật, lĩnh vực “khó khăn và nguy hiểm” của anh hoa tài thức bao đời nay lặn lội tìm mình, và ông đã đi đúng lộ trình mà mình đã chọn. Sơn Tùng hiểu rất rõ: Nghệ thuật chỉ có còn và mất chứ không hề có sự “ưu tiên”. Ông viết về trẻ thơ, về phụ nữ về người lính về kẻ thù, về bà mẹ Việt Nam về danh nhân lịch sử và văn hóa, về thiên nhiên đất nước…



Ở đâu ông cũng khám phá, đề cao lòng nhân ái và khát vọng, những góc khuất của lòng người. Vì thế văn chương của Sơn Tùng không cần đến tuyên truyền quảng cáo mà vẫn giành được số đông bạn đọc. Ngoài lúc cặm cụi bên trang giấy, lúc trò chuyện bên chiếu văn, Sơn Tùng còn trong vai một diễn giả thu hút trong các trường học và những khu dân cư ở khả năng diễn thuyết của mình bằng cái tâm và cái tầm văn hóa của một con người từng trải. Ông từng đọc rất nhiều: Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo và tín ngưỡng Việt Nam. Trong ông có cả vốn kinh điển chủ nghĩa Mác Lê nin và những học thuyết phương Tây khác. Ông hiểu sâu chữ Hán và đọc thông Tiếng Pháp; hiểu các tác phẩm lớn trên thế giới và yêu nền văn học dân gian… Tất cả kho tri thức đó, cuối cùng đều được ông soi vào tinh hoa của truyền thống văn hóa Việt Nam.

Mỗi lần gặp gỡ nhà văn Sơn Tùng, ra về tôi đều mang theo tâm trạng vừa khâm phục kính yêu vừa bồi hồi suy tưởng. Khâm phục kính yêu bởi trong ông vừa là một nhà sư phạm vừa là một nhân cách văn chương, sống hết mình vì cái đẹp và cái thiện giữa một không gian biến đổi mênh mông của thị trường kinh tế và văn hóa đất nước. Đồng thời với sưong gió tháng năm, liệu nhà văn Sơn Tùng thực hiện được bao nhiêu hoài bão nữa, khi ông đã quá bát tuần rồi? Một ngày cuối đông Kỉ Sửu, nhà văn đã tâm sự với tôi, ông còn nhiều món nợ: cùng với Chuyện Bác Hồ cả trăm năm chưa hề thấu ngọn nguồn, ông còn “món nợ” với vùng quê Hoa Luỹ Diễn Châu Nghệ An, nơi ông cất tiếng khóc chào đời bên biển, nơi có nhiều câu chuyện xúc động của ngư dân và những sự tích về Cá Ông Voi, ông vẫn chưa làm trọn vì nhiều lúc nâng cây bút lên viết, từ vết thương sọ não máu lại thấm ra… “Còn sống còn nghĩ được thì còn viết cháu ạ! Cái Đức của tổ tiên mình lớn lắm, nhà văn nhà giáo phải giữ cho trọn nghĩa để con cháu mình còn đi tiếp. Bác Hồ khi còn sống, vừa toan tính việc nước, nhưng luôn lo lắng tới tương lai…”. Mỗi khi cho ra đời một cuốn sách mới, Nhà văn Sơn Tùng đều gửi tặng tôi và đề tặng trang trọng. Vừa qua ông gửi tặng tôi cuốn sách Người dẫn đường (khúc ca Sán Dìu) của nhà thơ dân tộc Ôn Quang Thiên… Ông nói đầy tâm huyết: “Di sản văn học dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam giàu đẹp lắm, nhưng ta chưa nghiên cứu được nhiều”. Gần gũi Sơn Tùng, tôi cảm nhận đây là một nhà văn nhậy cảm với cái đẹp và cái thiện cùng những mặt trái của phạm trù này ở khắp nơi, cảm hứng trong ông luôn bắt nguồn từ cái thực và quyết tâm đi đến cùng cái thiện. Trên căn gác chật hẹp, ngõ Văn Chương phố Khâm Thiên Hà Nội có một chiếu văn rộng mở, cho hay: ai theo được “cái nghèo” của Sơn Tùng, và “cái giàu” của nhà văn ai có được. Ông là Sơn Tùng, đúng với hàm nghĩa văn chương của các bậc tiền nhân nói về một loài cây dãi dầu sương gió trên non cao rừng thẳm nhưng có một khoảng trời lộng lộng, bao la để hiến dâng cho đời hổ phách, phục linh. Xin kính chúc nhà văn Sơn Tùng thêm sức khoẻ để đi tiếp lộ trình cao đẹp mà ông đã chọn từ thuở thanh xuân của thế kỷ đã qua. 

TMT.                                                              

Nguồn: Văn nghệ Trẻ.

Mắt Bão

Mắt Bão
Tác giả: Phan Hồn Nhiên.
Nhà xuất bản: Nxb Văn Nghệ TP.HCM
Số trang: 364
Kích thước: 13.5x20.5 cm

Lấy bối cảnh tp. Hồ Chí Minh, Mắt bão là câu chuyện về những người trẻ đang ngồi trên ghế giảng đường hoặc đã vào đời, với tất cả những hệ lụy từ cuộc sống đô thị. Với độ dày sách trên 350 trang, Mắt bão đang trong giai đoạn cuối để ra mắt bạn đọc. Phan Hồn Nhiên cũng vừa gửi đến bạn đọc tiểu thuyết Công ty trong dịp Hội sách TP.HCM 2008, viết về thế giới văn phòng, và cũng được giới trẻ, nhất là giới văn phòng, thích thú...

Trích đoạn

"...Bỗng phía trước, Vĩnh nhận ra một bóng người trong bộ váy rất ngắn đang co ro bước sát vỉa hè. Đôi khi, cái bóng lảo đảo như một nhánh cây oặt oẹo. Hai bàn tay gầy nhom cầm hai chiếc giày cao bị gãy gót. Dường như đọc được sự tò mò của khách, taxi chạy chậm lại. Đèn xe chiếu thẳng vào cô gái. Nổi hằn lên mấy thứ đồ lót loại phát sáng phía dưới lớp váy mỏng dinh, gần như trong suốt. Một con bướm đêm loạng choạng bay ra từ một cuộc chơi thâu đêm nào đó, Vĩnh nghĩ. Với sự tàn nhẫn vô thức, người tài xế ép sát vào lề đường, đột ngột bấm còi lớn. Con bướm đêm giật thót, quay phắt lại, thình lình ngã vật xuống, hai chân xoãi dài trên khoảng đất tối om. Với cái thế ngồi kỳ quặc đó, cô bé bỗng ngửa mặt lên, cười như điên dại. Chiếc xe tiến đến gần hơn. Đèn pha mạnh khiến cô gái nhỏ nhắm nghiền mắt. Vĩnh chẳng còn nghe gì hết. Anh co rúm. Hệt như cú quật lén vào anh, từ sau gáy. Vĩnh buồn nôn khủng khiếp. Em gái anh, không lẫn vào đâu được...
… Phía sau lớp vỏ kiên định, chấp nhận cạnh tranh và dễ dàng thành công, Vĩnh trống rỗng ghê gớm. Thực sự, thì anh khác gì Thái Vinh? Được nuôi dạy trong môi trường tử tế. Được tạo điều kiện để chiếm lĩnh những gì người đời thường thèm muốn. Nhưng, đó là những thứ người khác thèm muốn, chứ có phải thật sự anh mong đợi không? Một cách vô thức, Thái Vinh sớm nhận ra điều đó, đã chống cự và lăn xả vào các cuộc lùng kiếm ý nghĩa đích thực của cuộc đời theo cái cách điên cuồng của cô. Còn anh thì đã sớm chấp nhận, với cả sự hài lòng và kiêu hãnh ngây thơ. Nhưng ai có thể đứng mãi trên lớp băng mỏng?...

“Mẫu thượng ngàn” - nội lực văn chương của Nguyễn Xuân Khánh

Sau một thời gian im lặng kéo dài mấy chục năm, gần đây, xuất hiện trở lại trên văn đàn với tiểu thuyết ”Hồ Quý Ly”, và bây giờ là “Mẫu thượng ngàn”,Nguyễn Xuân Khánh đã khiến nhiều người bất ngờ. VTC News trao đổi với nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên về cuốn sách này.

NPB Phạm Xuân Nguyên. Ảnh: Tuấn Trần
- Thưa anh Phạm Xuân Nguyên, anh đã đọc “Mẫu thượng ngàn” rồi chứ ạ?

- Vâng, So với “Hồ Quý Ly” 700 trang thì “Mẫu thượng ngàn” cũng rất dày dặn, công phu, được trình bày tới 807 trang. Tuy dài thế, nhưng phải nói luôn là sách rất hấp dẫn, cuốn hút người đọc từ đầu đến cuối.

- Bút pháp mà nhà văn Nguyễn Xuân Khánh sử dụng trong “Mẫu thượng ngàn” vẫn là lối viết chuẩn mực cổ điển. Vậy theo anh thì cống hiến của tác phẩm cho nền văn học nằm ở chỗ nào?

- Theo tôi, không có cái gọi là văn mới, văn cũ. Lối viết của Nguyễn Xuân Khánh đúng là cổ điển nhưng vẫn mang đậm hơi thở của đời sống hiện đại. Tôi thích nhất là những trường đoạn viết về bản thể tự nhiên, tính phồn thực của nhân vật nữ. Rất sum suê, phì nhiêu kiểu Nguyễn Xuân Khánh.

Cống hiến của nhà tiểu thuyết ở đây là đã nhắn gửi thành công một thông điệp đến với độc giả. Theo tôi, mỗi tác phẩm nhất thiết phải đạt được điều này. Đó cũng chính là tác dụng xã hội của văn học.

- Hai tác phẩm có những điểm khác nhau cơ bản, thậm chí đối lập về nội dung và cách phản ánh vấn đề. Anh có thể khái quát điều này giùm người đọc?

- “Hồ Quý Ly” - bằng một ngòi bút già dặn, vững chắc, thỉnh thoảng điểm những thử nghiệm về hình thức (nhân vật chính khi là ngôi thứ ba, khi là ngôi thứ nhất...), đã đào sâu vào bi kịch của một nhân vật lịch sử hồi đầu thế kỷ 15, một nhà cải cách tài ba và táo bạo, một con người đến quá sớm trong một thời đại quá trì trệ, đã phải trả giá đau đớn: Ông bị chính quần chúng nhân dân chống lại và bỏ rơi khi quân xâm lược đến. Cuộc kháng chiến do ông khởi xướng không được hưởng ứng, cả hai cha con ông đều bị kẻ thù bắt làm tù binh, và cuối cùng chết trong cảnh đi đày ô nhục...

Ðương nhiên khi người ta dựng lại những bi kịch lịch sử như vậy, thì bao giờ cũng là để gợi những liên tưởng hiện đại nào đó. Thông điệp của Nguyễn Xuân Khánh là sự trăn trở, đồng cảm với công cuộc đổi mới và những nhà cải cách trong lịch sử. Có thể gọi đó là một kiểu nhân vật hùng vĩ, lớn lao.

Còn “Mẫu thượng ngàn” là nhân vật quần chúng nhưng mang tính đại diện tiêu biểu cho dân tộc Việt. Suy nghĩ về sức sống của dân tộc qua những đụng độ văn hoá Việt - Pháp, Đông - Tây trước nạn ngoại xâm. Đạo Mẫu trong tiểu thuyết (thể hiện qua nhân vật nữ: Bà Tổ Cô bí ẩn, bà Ba Váy đa tình, cô đồng Mùi, mõ Hoa khốn khổ, trinh nữ Nhụ…) vừa là tín ngưỡng vừa thể hiện tính phồn thực và sự trường tồn của dân tộc Việt.  

- Với các tác phẩm của mình, dường như Nguyễn Xuân Khánh không chỉ là nhà tiểu thuyết mà còn là nhà văn hoá Việt?

Bìa cuốn sách.
- Đúng vậy. anh Khánh xuất hiện ở thế lưỡng phân, đôi khi, ngòi bút của một nhà tiểu thuyết phải chiều theo lối viết chứng minh, luận giải của nhà văn hoá. Từ “Hồ Quý Ly” đến “Mẫu thượng ngàn”, Nguyễn Xuân Khánh đã dùng văn chương phác hoạ rõ nét về nền văn hoá Việt. Nhà văn rất cần phải làm văn hoá, nói về văn hoá, nhưng trên hết, trong tư cách là một người viết thì văn Nguyễn Xuân Khánh rất đẹp, rất trong sáng, thú vị.

- Liệu tiểu thuyết này sẽ trở thành cuốn sách bán chạy nhất trong thời gian tới hoặc trở thành hiện tượng văn học?

- Điều này thì tôi chưa dám khẳng định, nhưng hiện tại, sách đang được rất nhiều người tìm đọc.  Điều đó hẳn có lý của nó.

“Mẫu thượng ngàn” đã chứng tỏ nội lực văn chương, tri thức, kiến văn và cả tư chất một nhà nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khánh. Thật đáng nể phục khi một cuốn tiểu thuyết như vậy được viết bởi tác giả ngót nghét bẩy nhăm tuổi.

Hoà Bình (thực hiện)

Thế giới như tôi thấy

 Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là tập hợp những bài viết, bài nói chuyện, thư từ và tiểu luận khoa học của một trong những con người vĩ đại nhất của thế kỷ hai mươi: Albert Einstein.

Ông là một trong những thiên tài hiếm hoi, người không chỉ vô cùng xuất sắc trong lĩnh vực nghiên cứu của mình mà còn có ảnh hưởng sâu rộng tới các lĩnh vực khác: tư tưởng, tôn giáo và chính trị.

Cuốn sách này được Einstein công bố lần đầu năm 1931 ở Đức. Năm 1955, sách được tái bản ở Mỹ, có bổ sung thêm nhiều bài viết mới. Từ đó đến nay, nó đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và trở thành một trong những cuốn sách "kinh điển" để người đọc qua đó có thể tìm hiểu về con người và cội nguồn tư tưởng của nhà khoa học.

Ấn bản mà chúng tôi chọn dịch là thuộc tủ sách Ullstein Taschenbuch của nhà Carl Seelig (Đức), 2005. Cuốn sách gồm có năm phần. Bốn phần đầu gồm các bài được sắp xếp theo bố cục gần giống với ấn bản năm 1955 ở Mỹ, song thứ tự các bài có đôi chỗ thay đổi và cũng có một số bài được bổ sung mới. Riêng phần năm, "Các tiểu luận khoa học", là phần được bổ sung mới hoàn toàn. Trong lần ra mắt bản tiếng Việt lần này, tiếc rằng chúng tôi chưa kịp hoàn tất phần năm mà chỉ có thế giới thiệu bốn phần đầu mà thôi. Chúng tôi sẽ bổ sung phần thiếu này vào lần xuất bản sau.

Tất cả những bài viết trong sách này đều là nguyên bản của Einstein: tiểu luận, thư từ, phát biểu, bài trả lời phỏng vấn... ở nhiều dịp khác nhau, trong đó có những bài được viết rất công phu, dày dặn, nhưng cũng có những phát biểu rất ngắn hoặc đôi khi chỉ là những lời bông đùa ngẫu hứng. Nhưng dù là ngắn hay dài, công phu hay ngẫu hứng, tất cả các bài đó đều thống nhất với nhau ở một văn phong không thể nhầm lẫn, văn phong của một cây bút bậc thầy: sâu sắc nhưng luôn sáng sủa và kiệm lời, quyết liệt nhưng không bao giờ đánh mất vẻ duyên dáng và hài hước.

Vì các bài được tác giả thực hiện ở những khoảng thời gian khác nhau nên rất khó sắp xếp chúng vào chung một chủ đề. Cách lựa chọn của nhà Carl Seelig trong ấn bản mà chúng tôi chọn dịch cũng chỉ là tương đối. Tuy vậy, khi đã đọc tất cả các bài ở các phần khác nhau, chúng tôi tin rằng độc giả hoàn toàn có khả năng nhận ra được các quan điểm chính yếu của Einstein trong các lĩnh vực mà ông quan tâm, từ khoa học, tôn giáo cho tới giáo dục và chính trị. Và, dù các quan điểm đó đã được xác nhận là đúng đắn hay vẫn còn gây nghi vấn, dù chúng vẫn còn giữ nguyên tính thời sự hay đã trở nên lỗi thời, chúng ta hoàn toàn có thể tin rằng, chúng đã được viết ra bởi một con người đã dành cả đời mình để cống hiến cho chân lý trong khoa học, cho cái thiện và cái đẹp trong cuộc sống.

Để tỏ lòng trân trọng với một nhân vật lịch sử lỗi lạc như Albert Einstein, chúng tôi đã chuyển tải nguyên văn các quan điểm riêng của ông. Về một số vấn đề cụ thể như: các thể chế dân chủ, nghĩa vụ quân sự, tòa án trọng tài quốc tế... mong độc giả hãy đọc với tinh thần phê phán khách quan và khoa học.

Ở Việt Nam đã có nhiều cuốn sách viết về Einstein, nhưng một cuốn sách do chính tay nhà khoa học viết ra thì vẫn còn thiếu. Nhân kỷ niệm 100 năm Thuyết tương đối và 50 năm ngày mất của Albert Einstein, chúng tôi xin giới thiệu bản dịch này như một sự bù đắp vào chỗ thiếu hụt ấy.

NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC

GS Trịnh Xuân Thuận - Nhà nghiên cứu vũ trụ hàng đầu thế giới

Đầu tháng 10/2009 vừa qua, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã quyết định trao tặng Giải thưởng Kalinga 2009 cho nhà Thiên văn học Trịnh Xuân Thuận.
Giải thưởng này đã thêm một lần nữa khẳng định Giáo sư người Việt đang sống tại Mỹ này là một trong những nhà nghiên cứu và phổ biến khoa học về vũ trụ hàng đầu thế giới hiện nay. 
Nhà thiên văn học nổi tiếng thế giới
 
GS Trinh Xuan Thuan - Nha nghien cuu vu tru hang dau the gioi
Giáo sư Trịnh Xuân Thuận sinh năm 1948 tại Hà Nội. Ông từng theo học trung học tại trường Yersin ở Đà Lạt, rồi trường Jean Jacques Rousseau ở Sài Gòn (nay là trường PTTH Lê Quý Đôn - TP.HCM). Hồi bé, cũng như bao đứa trẻ cùng lứa tuổi tò mò khác, cậu bé Trịnh Xuân Thuận vẫn thường nhìn lên bầu trời, ngắm những vì tinh tú, những ngôi sao đổi ngôi, những biến chuyển không ngừng trên nền trời đêm bao la,... và tự đặt ra cho mình vô vàn câu hỏi.
Sau khi đỗ tú tài trường Jean Jacques Rousseau năm 18 tuổi, Trịnh Xuân Thuận sang Thụy Sĩ du học ngành vật lý. Chỉ sau một năm học ở Thụy Sĩ, nhờ khả năng học tập xuất sắc, chàng sinh viên Việt Nam Trịnh Xuân Thuận giành được học bổng lên thẳng năm thứ hai của ba trường đại học danh tiếng bậc nhất nước Mỹ: MIT ở Boston, Học viện Công nghệ California (California Institute of Technology) và Princeton. Ông quyết định theo học tại Học viện Công nghệ California vì ở đó có những giáo sư giỏi hàng đầu thế giới, có những người đã đoạt giải Nobel.
 

"Lúc đầu, tôi chỉ biết tiếng Pháp, qua Mỹ không biết tiếng Mỹ, bị cắt hết liên lạc gia đình, đâu có tiền mà về thăm nhà. Xa gia đình, xa đất nước mình, thiếu chỗ nương tựa tinh thần, văn hóa lại khác hẳn nên lúc đầu rất khó khăn", Giáo sư Trịnh Xuân Thuận nhớ lại những ngày tháng ấy. Ông lần lượt theo học tại Học viện Công nghệ California (California Institute of Technology) từ 1967 đến 1970, và học tại Đại học Princeton từ 1970 đến 1974. Và Trịnh Xuân Thuận đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ tại Đại học Princeton. Từ năm 1976 đến nay, ông là Giáo sư ngành Vật lý thiên văn tại Đại học Virginia. Trong những năm qua, nhà Thiên văn học Trịnh Xuân Thuận nổi tiếng trong giới nghiên cứu vật lý thiên văn thế giới với nhiều công trình nghiên cứu gây tiếng vang lớn.
Vật lý thiên văn và văn học
Không chỉ nổi tiếng là một trong những nhà vật lý thiên văn hàng đầu thế giới, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận còn là người đưa vật lý thiên văn, một ngành khoa học cơ bản, trở nên gần gũi với độc giả nhiều quốc gia qua các tác phẩm nổi tiếng do ông viết. Vốn là người thấm nhuần văn hóa Pháp sống và làm việc tại Mỹ, nên tuy Giáo sư Trịnh Xuân Thuận viết những công trình khoa học bằng tiếng Anh, nhưng ông lại viết những tác phẩm về vũ trụ của mình bằng tiếng Pháp. Và ông đã được coi là một nhà nghiên cứu giàu mỹ cảm.
Còn với bạn đọc Việt Nam, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã được độc giả trong nước biết đến qua những tác phẩm nổi tiếng đã được dịch ra tiếng Việt như: Giai điệu bí ẩn, Trò chuyện với Trịnh Xuân Thuận, Hỗn độn và hài hòa, Cái vô hạn trong lòng bàn tay (Từ Big Bang đến giác ngộ), Những con đường của ánh sáng, Nguồn gốc… Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã nhiều lần về thăm Việt Nam, tham gia giảng dạy cho sinh viên trong nước tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và tổ chức những buổi nói chuyện về vũ trụ và vật lý thiên văn. Ông là người đã từng được tham gia chính thức trong phái đoàn của nguyên Tổng thống Pháp Mitterrand sang thăm Việt Nam năm 1993.
Đến nay, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã viết hàng trăm bài tiểu luận cùng những tác phẩm về sự hình thành vũ trụ cùng với những thiên hà và sự phát triển của chúng. Các tác phẩm đã trở nên nổi tiếng của ông bao gồm: Giai điệu bí ẩn (1988); Khám phá: Khai sinh vũ trụ; Big Bang và sau đó (1992); Hỗn độn và hài hòa (1998), (2000); Nguồn gốc và nỗi buồn (2003); Lượng tử và hoa sen (2004)... Trong số đó, cuốn Hỗn độn và hài hòa là tác phẩm bán chạy nhất ở nước Pháp năm 2000. Năm 2007, với tác phẩm Những con đường của ánh sáng, Trịnh Xuân Thuận được Viện Hàn lâm Pháp trao Giải thưởng lớn Moron.
Nhận giải thưởng Kalinga năm 2009 của UNESCO
Năm 2009, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận vừa cho ra mắt tác phẩm mới nhất của ông, cuốn Từ điển dành cho những người đam mê bầu trời và các vì sao (Dictionnaire amoureux du ciel et des étoiles). Trong tác phẩm mới này, Trịnh Xuân Thuận còn đề cập đến những hiện tượng lạ trong vũ trụ như nguồn sáng Quasars hay những tín hiệu từ thiên hà Pulsars… Cuốn sách có những mục từ về lịch sử thiên văn học và cả những bài viết mang tính triết học như "khoa học và vẻ đẹp" hay "khoa học và tiện ích".
 
Theo Giáo sư Trịnh Xuân Thuận, ông tin sự hoàn hảo và hài hòa tuyệt vời của vũ trụ không phải được sinh ra ngẫu nhiên, mà được sáng tạo có chủ ý. Tuy nhiên, "Đấng Sáng Tạo" đó không phải là con người cụ thể, như Chúa hay Phật tổ. Giáo sư cũng tin rằng loài người chúng ta không phải là duy nhất trong vũ trụ và cùng với những tiến bộ của khoa học, rồi đây chúng ta sẽ khám phá ra những hành tinh có thể tồn tại những hình thái sự sống mà chúng ta có thể tiếp cận.
Với sự say mê dành cả cuộc đời để nghiên cứu khoa học thiên văn và đem bầu trời đến với mọi người, Giáo sư Trịnh Xuân Thuận đã được UNESCO trao tặng giải thưởng Kalinga về phổ biến khoa học năm 2009. Đây là giải thưởng quốc tế để tôn vinh nỗ lực của những nhà nghiên cứu có nhiều thành công trong công việc phổ biến kiến thức khoa học đến công chúng. Nhà Thiên văn học Trịnh Xuân Thuận là một trong hai nhà khoa học trên thế giới được tặng giải thưởng Kalinga 2009. Người thứ hai được tặng giải Kalinga năm nay là Giáo sư Yash Pal người Ấn Độ. Giải thưởng này sẽ được trao cho Giáo sư Trịnh Xuân Thuận tại Diễn đàn khoa học thế giới ở Budapest, Hungary vào ngày 5/11/2009.